Văn bản trích xuất theo trang
Trang 259
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
258
TUỆ SỸ
vương! Lành thay Đại [38c] vương!” Từ đó thế gian mới
bắt đầu có danh từ Vua.21 Đúng theo pháp mà trị dân, nên
gọi là Sát-lị,22 và thế gian bắt đầu có tên “Sát-lị.”
4. Xã hội phân hóa và phân công
“Thời gian sau, trong quần chúng độc nhất có một
người23 suy nghĩ như vầy: ‘Nhà là đại hoạn, nhà là gai
độc. Ta nên bỏ cư gia này mà sống một mình trên rừng
núi nhàn tịnh để tu đạo.’ Người ấy liền bỏ cư gia mà
vào rừng, trầm lặng tư duy, đến giờ ăn thì cầm bát vào
xóm khất thực. Mọi người trông thấy, thảy đều vui vẻ
cúng dường, tán thán: ‘Lành thay, người này đã lìa bỏ
cư gia, một mình sống trong núi rừng, trầm lặng tu
đạo, xa lìa mọi điều xấu ác.’ Từ đó trong thế gian mới
bắt đầu có tên Bà-la-môn.24
“Nhưng trong đám Bà-la-môn có kẻ không ưa ở chỗ
21 Hán: vương 王. T 10: Do khéo nói ra lời an ủi đối với mọi người,
gọi là “người an ủi 慰安.” Người an ủi ấy tức là vua 王. Đó là nguồn
gốc của từ “vua”. T 26(154): Khiến cho chúng sinh được an lạc đúng
như pháp, bảo vệ và thi hành kỹ luật, đó là vua. “Vua” có nghĩa là
“làm vua” 王謂之王. D 27: dhammena pare rañjetīti rājā rājā,
“đúng theo pháp, làm người khác hài lòng, đó gọi là vua”. Theo đây,
rāja, vua, do gốc động từ rañjeti, làm cho vui, làm cho hài lòng.
22 Hán: Sát-lị 剎利. T 10: “Làm chủ và bảo hộ địa giới, nên được gọi
là Sát-đế-lị.” D 27 ibid.: khettānaṃ adhipati… khattiyo khattiyo,
ông chủ của các ruộng đất (khetta) được người ta gọi: Khaatiyo !
Khattiyo! (= điền chủ).
23 So Pāli: sattānaṃ yeva ekaccānaṃ, một số (nhiều) chúng sinh.
24 D 27 (iii 94): pāpake akusale dhamme vāhentī ti… brāhmaṇā
brāhmaṇā: do loại bỏ các pháp ác, bất thiện mà được gọi Brāhmaṇā
! Brāhmaṇā. Ở đây, từ brāhmaṇa có gốc từ động từ vāhenti: loại
bỏ. Vāheti là dạng hỗn chủng của động từ căn Skt. √bṛh, cũng đọc
là vṛh: nhổ bỏ, nhổ sạch gốc.