Văn bản trích xuất theo trang
Trang 131
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
130
TUỆ SỸ
trì luật, trì luật nghi,118 được lãnh thọ giáo pháp này.’
Nghe như vậy, các ngươi cũng không tin, cũng không
nên bài bác. Hãy nương theo kinh mà xét chỗ hư thật.
Nương theo luật, nương theo pháp mà xét rõ gốc
ngọn. Nếu thấy lời nói ấy không đúng kinh, không
đúng luật, không đúng pháp, các ngươi hãy nói lại
người kia rằng: ‘Phật không nói như thế, thầy đã ghi
nhớ nhầm chăng? Bởi vì chúng tôi y kinh, y luật, y
pháp. Mà điều thầy vừa nói trái với pháp. Vậy, này
Hiền sĩ, thầy chớ có thọ trì và chớ đem nói cho người
khác. Hãy từ bỏ điều đó đi.’ Trái lại nếu xét thấy lời
kia đúng kinh, đúng luật, đúng pháp thì hãy nói với
người kia rằng: ‘Điều thầy vừa nói, đúng là lời Phật
nói. Vì chúng tôi y kinh, y luật, y pháp. Mà điều thầy
vừa nói phù hợp với pháp. Vậy, Hiền sĩ, hãy thọ trì và
rộng nói cho người nghe, cẩn thận chớ có từ bỏ.’ Đó
là đại giáo pháp thứ tư.”
20. Tối hậu cúng dường
Bấy giờ đức Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở thành
Phụ-di, lại bảo A-nan cùng đi đến thành Ba-bà.119 A-
nan đáp: “Kính vâng”, rồi xếp y ôm bát, với đại chúng
đi theo Thế Tôn, theo con đường Mạt-la đi đến vườn
Xà-đầu,120 thành Ba-bà. Nơi đây có con trai của một
118 Trì luật nghi持律儀, đây chỉ các vị chuyên giải thích về luật (ma-
đắc-lặc-già hay tì-ni mẫu). Pāli: mātikadhara
119 Ba bà 波 婆; T 5, T 6: Ba-tuần quốc 波旬國. T 7: từ Thiện-già thành
đi Cưu-sa thôn 鳩娑村 (?). D16: từ Bhoganagara đi Pāvā.
120 Xà đầu viên 闍頭園, T 5, T 6: Thiền-đầu viên 禪頭園. Pl.: Pāvāyaṃ
viharati Cundassa kammāraputtassa ambavane, trú ở Pāvā trong
vườn xồi của con trai người thợ sắt tên là Cunda.