Văn bản trích xuất theo trang
Trang 91
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh ANH VŨ 318
“–Biết rõ. Do ba sự hiệp hội mà thọ thai, là sự hiệp hội của cha mẹ, thời
gian người mẹ có thể thọ thai13 và hương ấm đã đến14. Này A-tư-la Tiên
nhân Đề-tì-la, phải hội đủ ba sự này mà có sự nhập thai mẹ.
“A-tư-la Tiên nhân Đề-tì-la lại hỏi các Tiên nhân:
“–Nhưng có thể biết sự thọ sanh này là trai hay gái? Biết nó từ đâu đến?
Từ chủng tộc Sát-lị, từ Bà-la-môn, Cư sĩ hay Công sư đến chăng? Từ
phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc mà đến chăng?
“Các Tiên nhân kia đáp rằng:
“–Không biết.
“A-tư-la Tiên nhân Đề-tì-la lại nói với các Tiên nhân kia rằng:
“–Này Chư Hiền, các người không thấy nó, không biết nó. Các người
không biết thọ thai ai, nó từ đâu đến, nó là trai hay gái; nó từ Sát-lị, Bà-
la-môn, Cư sĩ hay Công sư; nó từ phương Đông, phương Nam, phương
Tây, phương Bắc, nhưng các người lại nói như thế này, ‘Dòng Bà-la-môn
chí là hơn hết, ngồi ra không ai bằng. Dòng Bà-la-môn trắng, ngồi ra
đều là đen, Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải Bà-la-môn thì không
được thanh tịnh. Bà-la-môn con Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên’.
“Này Ma-nạp, các Tiên nhân cùng sống chung với nhau trên chỗ cao của
rừng vắng kia bị A-tư-la Tiên nhân Đề-tì-la khéo dạy, khéo quở trách nên
không thể chủ trương Bà-la-môn là thanh tịnh, huống nữa là các thầy trò
ngươi, những người luống mặc áo da, áo cỏ.”
Khi ấy, A-nhiếp-hòa-la-diên-da-na Ma-nạp bị Thế Tôn chỉ trích ngay mặt,
trong lòng sầu não, cúi đầu im lặng, không biện bạch được một lời.
Đức Thế Tôn sau khi chỉ trích A-nhiếp-hòa-la-diên-da-na Ma-nạp, Ngài
lại muốn khuyên cho Ma-nạp được vui vẻ, bèn hỏi:
“Này Ma-nạp, có Bà-la-môn trai tự, bố thí; người này có bốn người con,
hai đứa ham học hỏi, hai đứa không học hỏi. [666b] Ý Ma-nạp nghĩ sao?
Người Bà-la-môn này sẽ dành cho ai trước tiên chỗ ngồi bậc nhất, nước
tắm bậc nhất và thức ăn bậc nhất?”
13 Dịch thốt ý; nguyên Hán: vô mãn kham nại 無滿堪奈. Pāli: mātā ca tunī hoti,
người mẹ trong thời có kinh.
14 Pāli: gandhabbo ca paccupaṭṭhito, hương ấm hiện diện.