Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm III

Kinh Trung A Hàm III

Tuệ Sỹ dịch và chú · 715 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 696

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

221. KINH TIỄN DỤ Tôi nghe như vầy: Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Tôn giả Man Đồng tử1, sống cô độc tại một nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, trong tâm khởi lên ý niệm, “Sự kiện như vầy. Những quan điểm này bị Đức Thế Tôn gác lại2, loại bỏ, không giải thích tường tận; đó là, ‘Thế giới hữu thường hay vô thường; thế giới hữu biên hay vô biên3; sinh mạng tức là thân hay sinh mạng khác thân khác; Như Lai tồn tai sau khi chết hay Như Lai không không tồn tại sau khi chết4; Như Lai vừa tồn tai sau khi chết vừa không tồn tai sau khi chết; hay Như Lai cũng không phải tồn tai sau khi chết, cũng không phải không tồn tai sau khi chết?’ Ta không hài lòng với điều này, ta không nhẫn khả với điều này. Nếu Đức Thế Tôn [804b] xác quyết5 nói cho ta biết rằng: ‘Thế giới hữu thường’ ta sẽ theo Ngài học phạm hạnh, còn nếu Đức Thế Tôn không xác quyết nói cho ta biết rằng ‘Thế giới hữu thường’ ta sẽ cật vấn Ngài rồi bỏ Ngài mà đi. Cũng vậy, ‘Thế giới vô thường; thế giới hữu biên hay vô biên; sinh mạng tức là thân hay sinh mạng khác thân khác; Như Lai tồn tai sau khi chết hay Như Lai không không tồn tại sau khi chết; Như Lai vừa tồn tai sau khi chết vừa không tồn tai sau khi chết; hay Như Lai cũng không phải tồn tai sau khi chết, cũng không phải không tồn tai sau khi chết?’ Nếu Đức Thế Tôn xác quyết nói cho ta biết rằng, ‘Điều này chơn thật, ngoài ra là hư vọng’ ta sẽ theo Ngài tu học phạm hạnh; còn nếu Đức Thế Tôn không xác quyết nói cho ta biết rằng, ‘Điều này là chơn thật ngoài ra là hư vọng’ thì ta sẽ cật vấn Ngài rồi bỏ Ngài mà đi.” Rồi Tôn giả Man Đồng tử vào lúc xế trưa, từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ 1 Man Đồng tử 鬘童子. No 94: Ma-la-cưu-ma-la 摩羅鳩摩羅. Pl. Māluṅkya 2 Xem cht.3, kinh 220 trên. 3 Nguyên Hán: thế hữu để, thế vô để 世有底世無底, dịch sát: “thế gian có đáy hay không có đáy.” Pāli. thành cú: antavā loko’tipi, ‘anantavā loko’tipi. 4 Nguyên Hán: Như Lai chung, bất chung 如來終不終. Pāli, thành cú: ‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’tipi, 5 Hán: nhất hướng thuyết 一 向 說.