Văn bản trích xuất theo trang
Trang 655
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh BỆ-HA-ÑỀ 905
“Đại vương, Đại vương thấy nơi Ta có những nghĩa lợi nào mà tự hạ
mình đảnh lễ dưới chân và cúng dường cung kính như vậy?”
Vua Ba-tư-nặc thưa:
“Bạch Thế Tôn, con có sự loại suy về pháp5 đối với Thế Tôn. Do đó con
nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác giảng
dạy thật là tồn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn thật khéo thú hướng6.’
“Bạch Thế Tôn, khi con ngồi trên đô tọa7, con nhìn thấy mẹ tranh chấp với
con, con tranh chấp với mẹ; cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha;
cho đến anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong
khi tranh chấp, mẹ nói con xấu, con nói mẹ xấu, cha con, [786a] anh em,
chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau. Người thân thích trong
nhà còn như thế, huống nữa là người ngồi. Còn ở đây, con thấy chúng Tỳ-
kheo, đệ tử của Thế Tôn theo Thế Tôn tu hành phạm hạnh. Hoặc nếu có
Tỳ-kheo nào gây ra ít nhiều tranh chấp, xả giới bỏ đạo cũng không nói xấu
Phật, không nói xấu Pháp, không nói xấu chúng Tăng, mà chỉ tự chê trách
rằng, ‘Tôi xấu xa, thiếu đức hạnh. Tại sao như vậy? Vì tôi không thể theo
Thế Tôn trọn đời tu hành phạm hạnh.’ Đó là sự loại suy về pháp của con
đối với Thế Tôn. Do đó con nghĩ rằng, ‘Pháp được Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác giảng dạy thật là tồn thiện. Chúng đệ tử của Thế Tôn
thật là khéo thú hướng.’
“Bạch Thế Tôn, lại nữa, con thấy một Sa-môn, Bà-la-môn khác đã ít
nhiều học hành phạm hạnh, hoặc chín tháng, hoặc mười tháng, nhưng lại
xả bỏ để theo sắc phục trước kia, rồi lại bị nhiễm ô bởi dục vọng, nhiễm
dục, dính trước dục, bị dục trói chặt, kiêu ngạo, chấp thủ, thâm nhập,
sống hoan lạc trong sự hành dục mà không thấy tai họa, không thấy xuất
yếu. Bạch Thế Tôn, con thấy ở đây chúng Tỳ-kheo đệ tử của Thế Tôn tự
nguyện trọn đời tu tập phạm hạnh, cho đến ức số. Ngồi đây ra con
5 Pháp tĩnh 法 靖 (bản Tống: 靜); Pāli: dhammanvaya, tổng tướng của pháp, loại
cú của pháp, mục đích thứ tự của pháp. Đây chỉ sự suy diễn dựa trên những
chứng nghiệm thực tế.
6 Pāli: svākkhato bhagavato dhammo suppaṭipanno sāvakasaṅgho, Pháp được
Thế Tôn khéo thuyết, Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo thực hành.
7 Đô tọa 都坐. Pāli: atthakaraṇa, công đường, pháp đình, chỗ xử kiện.