Văn bản trích xuất theo trang
Trang 599
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh TIEÃN MAO (II) 838
gì.”
Thế Tôn hỏi như vậy ba lần rằng:
“Ưu-đà-di, vừa bàn luận những gì? Do việc gì mà nhóm họp ngồi
đây?”
Dị học Tiễn Mao cũng đáp lại ba lần rằng:
“Bạch Cù-đàm, xin bỏ qua vấn đề này, nó không hay ho gì, Sa-môn Cù-
đàm nếu muốn nghe, sau này [784a] nghe cũng không khó. Nhưng nếu
Sa-môn Cù-đàm ba lần muốn nghe, nay tôi phải nói1.
“Bạch Cù-đàm, tôi có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ
trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài, khi nghe có người nói:
‘Thật sự có Nhất thiết trí2, thấy tất cả, biết tất cả, không cái gì không biết,
không cái gì không thấy. Tôi liền vấn sự vị ấy, nhưng vị ấy không biết.
Bạch Cù-đàm, tôi nghĩ như vầy: Đây là những ai?”
Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Ưu-đà-di, ông có sách lự, có tư duy; trụ trong trạng thái sách lự, trụ
trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài. Nhưng ai nói, ‘Thật sự có
Nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không có gì không biết, không có gì
không thấy’ mà khi ông đến vấn sự, thì vị ấy không biết?”
Dị học Tiễn Mao đáp rằng:
“Bạch Cù-đàm, đó là Bất-lan Ca-diếp. Vì sao? Bạch Cù-đàm, vì Bất-lan
Ca-diếp tự cho là thật có Nhất thiết trí, biết tất cả, thấy tất cả, không gì
không biết, không gì không thấy. Tôi có sách lự, có tư duy, trụ trong sách
lự, trụ trong tư duy có trí tuệ, có biện tài; tôi đến vấn sự. Nhưng vị ấy
không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi nghĩ thế này, ‘Đây là những ai?’
“Ma-tức-ca-lợi Cù-xá-lợi Tử, Bà-nhã Bệ-la-trì Tử, Ni-kiền Thân Tử, Ba-
phù Ca-chiên, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị, các vị này cũng vậy. Bạch Cù-
đàm, A-di-đa Kê-xá-kiếm-bà-lị tự cho thật sự có Nhất thiết trí, biết tất cả
thấy tất cả, không cái gì không biết, không cái gì không thấy. Tôi có sách
lự, có tư duy, trú trong sách lự, trú trong tư duy, có trí tuệ, có biện tài, tôi
đến vấn sự những vị ấy không biết. Bạch Cù-đàm, vậy nên tôi khởi ý
1 Toàn cả đoạn trên, giống kinh 208.
2 Tát-vân-nhiên 薩云然; Pāli: sabaññu, vị Nhất thiết trí; vị tòan trí.