Văn bản trích xuất theo trang
Trang 52
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh TÖÔÏNG TÍCH DUÏ262
lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, vị ấy hướng đến kia mà thủ hộ căn con
mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân; khi ý biết pháp, không chấp thủ tướng
của pháp, không đắm nhiễm vị của pháp. Do nguyên nhân gì mà khi ý
căn không được thủ hộ thì trong tâm sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện
pháp, hãy hướng đến kia mà thủ hộ ý căn.
“Người ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc, thủ hộ
các căn rồi, lại biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát phân biệt sự
co, duỗi, cúi, ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp tăng-già-lê và
mang các y bát; đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết rõ
chân chánh.
“Người ấy sau khi thành tựu Thánh giới tụ này và hết sức tri túc, thủ hộ
các căn, biết rõ chân chánh sự ra vào rồi lại sống cô độc tại nơi xa vắng,
ở trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, những nơi trống vắng
yên tĩnh, sườn non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng,
hoặc giữa bãi tha ma. Người ấy sau khi ở trong rừng vắng, hoặc đến gốc
cây, những chỗ không nhàn yên tĩnh, trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già,
chánh thân chánh nguyện, hướng niệm nội tâm15, đoạn trừ tâm tham lam,
không có não hại, thấy tài vật và các nhu dụng sinh sống của người khác
mà không khởi tâm tham lam muốn khiến về mình. Người ấy đối với
tham lam, tâm được tịnh trừ.
“Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn trừ nghi hoặc, đối
với các thiện pháp không còn do dự. Vị ấy đối với sự nghi hoặc, tâm đã
tịnh trừ.
“Người ấy đoạn trừ năm triền cái này, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu
kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh,
chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ.
“Này Bà-la-môn, đó gọi là điều được Như Lai khuất, được Như Lai hành,
phồng hộ khi ấy tham và ưu cũng các pháp ác bất thiện chảy lọt vào, ngơi hãy tu
tập để ngăn chặn nguyên nhân ấy. Trong bản Hán, adhikaraṇa, nguyên nhân,
được hiểu là sự tranh cãi.
15 Chánh thân chánh nguyện phản niệm bất hướng 正身正願反念不向. Pāli:
ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya, parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā, giữ thân ngay thẳng; dựng
chánh niệm để trước mặt.