Văn bản trích xuất theo trang
Trang 46
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh TƯƠÏNG TÍCH DỤ256
Dị học Ti-lô đáp:
“Bà-la-môn, hạng người nào mà có thể biết Thế Tôn ở nơi trống vắng
yên tĩnh [656b] học trí tuệ? Này Bà-la-môn, nếu biết Thế Tôn ở nơi trống
vắng yên tĩnh, học trí tuệ thì cũng phải bằng Thế Tôn. Nhưng, này Bà-la-
môn, kinh thơ mà tôi đọc có bốn cú nghĩa5 và do bốn cú nghĩa này mà tôi
nhất định tin tưởng Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Pháp được nói bởi Thế Tôn là tồn thiện. Thánh Chúng đệ tử Như Lai
khéo thú hướng.
“Này Bà-la-môn, cũng như thợ săn voi rành nghề, đi rảo trong một khu
rừng, ở giữa rừng cây nhìn thấy dấu chân voi to lớn. Thấy rồi, người ấy
nhất định tin tưởng con voi này phải là rất lớn mới có dấu chân như vậy.
Này Bà-la-môn, tôi cũng như vậy. Trong kinh thơ mà tôi đọc có bốn cú
nghĩa, do bốn cú nghĩa này mà tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như Lai,
Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Pháp được nói bởi Thế Tôn là tồn
thiện. Thánh Chúng đệ tử của Như Lai khéo thú hướng.
“Bốn cú nghĩa ấy là thế nào?
“Này Bà-la-môn, các luận sĩ Sát-lị có trí tuệ, học rộng, quyết định6, có
thể khuất phục người đời, không thứ gì là không biết, rồi đem những điều
được thấy mà tạo tác văn chương, lưu hành trong thế gian. Họ nghĩ như
vầy, ‘Ta đến chỗ Sa-môn Cù-đàm hỏi sự việc như vầy, nếu trả lời được,
Ta lại hỏi nữa. Nếu không trả lời được, Ta khuất phục rồi bỏ đi’. Họ nghe
Thế Tôn đang trú tại một thôn ấp nào đó, bèn tìm đến. Sau khi gặp Thế
Tôn, hỏi còn không dám, há lại nói đến sự khuất phục. Này Bà-la-môn,
kinh thư mà tôi đã đọc dùng được cho cú nghĩa thứ nhất này. Nhân ý
nghĩa này, tôi nhất định tin rằng Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác. Pháp được nói bởi Thế Tôn là tồn thiện. Thánh Chúng đệ
tử của Như Lai khéo thú hướng.
“Cũng vậy, những Bà-la-môn có trí tuệ, những Cư sĩ có trí tuệ, những
luận sĩ Sa-môn có trí tuệ, đa văn, quyết định, có khả năng khuất phục
người đời, không điều gì là không biết, rồi đem những điều được thấy tạo
5 Tứ cú nghĩa 四句義. Pāli: samaṇne gotame cattāri padāni, bốn dấu chân nơi Sa-
môn Gatama. Trong Pāli, pada, có nghĩa dấu chân, cũng có nghĩa là câu văn.
6 Hán: quyết định 決 定; bản Pāli: nipuṇe: tinh tế.