Văn bản trích xuất theo trang
Trang 409
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH CA-LÂU-Ô-ÑÀ-DI 654
chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo với tâm an trụ trên trụ xứ này, nếu muốn tọa định,
Tỳ-kheo ấy rời khỏi chỗ kinh hành, đến cuối con đường kinh hành, trải
ni-sư-đàn, ngồi kiết già. Sau khi ngồi như vậy vững vàng rồi, trong tâm
không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo với tâm an trụ trong trụ xứ này, nếu muốn có suy
niệm14, thì Tỳ-kheo ấy đối với ba sự suy niệm về ác bất thiện này là niệm
dục, niệm nhuế và niệm hại, đừng suy niệm đến ba suy niệm ác bất thiện
ấy. Đối với ba suy niệm thiện là: niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại,
hãy suy niệm trên ba suy niệm thiện ấy. Sau khi suy niệm như vậy rồi,
trong tâm không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, đó gọi là
chánh tri.
“Này A-nan, Tỳ-kheo ấy đối với những luận bàn không phải là Thánh
luận, không tương ưng nghĩa15, tức là luận bàn về những vấn đề vua chúa,
vấn đề đạo tặc, vấn đề tránh sự, vấn đề ẩm thực, vấn đề đàn bà, vấn đề
đồng nữ, vấn đề dâm nữ, vấn đề thế gian, vấn đề tà đạo, vấn đề trong
biển. Vị ấy không bàn luận các loại súc sanh luận như vậy. Nếu có những
vấn đề thuộc Thánh luận, tương ưng nghĩa, khiến tâm nhu hòa, [739b]
không có những sự che đậy16, tức là vấn đề thí, vấn đề giới, vấn đề định,
vấn đề giải thốt, vấn đề giải thốt tri kiến, vấn đề tiệm giảm17, vấn đề
không tụ hội, vấn đề thiểu dục, vấn đề tri túc, vấn đề vô dục, vấn đề đoạn,
vấn đề diệt, vấn đề tĩnh tọa, vấn đề duyên khởi. Sau khi luận bàn những
vấn đề mà Sa-môn luận bàn như vậy rồi, trong tâm không sanh tham lam,
ưu sầu, ác bất thiện pháp. Đó gọi là chánh tri.
“Lại nữa, này A-nan, có năm công đức của dục, khả lạc, khả ý, khả niệm,
sắc ái lạc tương ưng với dục; đó là, sắc được biết bởi mắt, tiếng được biết
bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi
14 Niệm, tức tầm, suy tầm hay toan tính. Có ba bất thiện tầm: dục tầm, nhuế tầm
và hại tầm. Pāli: tayo akusala-vitkkā: kāma-vitakko, vyāpāda-vitakko, avihiṃs-vitakko.
Xem, D.33 Saṅgītisuttanta.
15 Không liên hệ đến mục đích của Thánh đạo.
16 Pāli: cetovinīvaraṇasappayā, tâm được cởi mở, không bị che đậy.
17 Tiệm tổn 漸 損, xem kinh 91 ở trước.