Văn bản trích xuất theo trang
Trang 380
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH thuyết trí611
vầy, ‘Này Hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói bốn loại tuyên thuyết8. Những gì
là bốn? Một là cái được thấy thì nói là cái được thấy. Hai là cái được
nghe thì nói là cái được nghe. Ba là cái được thức thì nói là cái được thức.
Bốn là biết cái được thì nói là cái được biết.’
“‘Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào bốn loại tuyên thuyết này để rõ
được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các lậu, tâm được giải
thốt?’
“Tỳ-kheo các lậu đã dứt sạch, biết được mình phạm hạnh đã vững, nên
như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, đối với cái được thấy nói là
được thấy, tôi không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng
buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thốt, giải thốt một cách rốt
ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết,
phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’
Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với bốn loại tuyên
thuyết này, tôi biết rõ mình đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm
được giải thốt.’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu, tự biết phạm hạnh đã vững
ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là
đúng và hoan hỷ phụng hành.
“Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như
vầy, ‘Này Hiền giả,Thế Tôn đã nói pháp sáu nội xứ9, mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý xứ. Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào sáu nội xứ này để
biết rõ là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thốt?’
“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu, tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như
pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, đối với mắt và thức con mắt, pháp
được biết bởi thức con mắt, tôi đều biết. Sau khi biết hai pháp, này chư
Hiền, nếu đối với mắt và thức con mắt, pháp được biết bởi thức con mắt
mà ái lạc đã dứt sạch; do dứt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà tôi biết là đã
8 Tứ thuyết: kiến, văn, thức (giác), tri 見聞識知. Pl: cattaro vohārā - diṭṭhe
diṭṭhavāditā, sute sutavāditā, mute mutavāditā, viññāte viññātavāditā, bốn ngôn
thuyết: đối với cái được thấy thì nói là cái được thấy, cái được nghe nói là cái
được nghe, cái được cảm nói là cái được cảm, cái được nhận thức nói là cái
được nhận thức.
9 Hán: nội lục xứ 內 六 處.