Văn bản trích xuất theo trang
Trang 354
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH MÃ ẤP (II)583
“Bởi vì Ta thấy người khóac tăng-già-lê mà vẫn có tham lam, có nhuế, có
sân, có phú tàng, có kết, có bỏn sẻn, có tật đố, có dua nịnh, có lường gạt,
có vô tàm, cóù vô quý, có ác dục, có tà kiến, cho nên người khóac tăng-
già-lê ấy Ta không nói nó là Sa-môn.
“Cũng như vậy, lõa hình, bện tóc, không ngồi, ăn một bữa, thường tung
nước,11 thọ trì nước. Những Sa-môn có hạnh như vậy Ta nói không phải
là Sa-môn. Nếu Sa-môn do thọ trì nước mà có tham lam thì dứt tham lam,
có nhuế dứt nhuế, có sân bỏ sân, có phú tàng dứt [726b] phú tàng, có kết
dứt kết, có bỏn sẻn dứt bỏn sẻn, có tật đố dứt tật đố, có dua nịnh dứt dua
nịnh, có lường gạt dứt lường gạt, có vô tàm dứt vô tàm, có vô quý dứt vô
quý, có ác dục bỏ ác dục, có tà kiến bỏ tà kiến; thì bạn bè thân thiết của
người đó nên đến bảo người đó rằng: ‘Này bạn, bạn nên thọ trì nước, vì
do thọ trì nước mà có tham lam thì dứt tham lam, có nhuế dứt nhuế, có
sân bỏ sân, có phú tàng dứt phú tàng, có kết dứt kết, có bỏn sẻn dứt bỏn
sẻn, có tật đố dứt tật đố, có dua nịnh dứt dua nịnh, có lường gạt dứt lường
gạt, có vô tàm dứt vô tàm, có vô quý dứt vô quý, có ác dục bỏ ác dục, có
tà kiến bỏ tà kiến.’
“Bởi vì Ta thấy có người thọ trì nước mà vẫn có tham lam, có nhuế, có
sân, có phú tàng, có kết, có bỏn sẻn, có tật đố, có dua nịnh, có lường gạt,
có vô tàm, cóù vô quý, có ác dục, có tà kiến, cho nên người thọ trì nước
ấy Ta nói không phải là Sa-môn. Đó gọi là không phải đạo hành của Sa-
môn, không phải là Sa-môn.
“Thế nào là đạo hành của Sa-môn? Không phải phi Sa-môn? Nếu có
tham lam thì dứt tham lam, có nhuế dứt nhuế, có sân bỏ sân, có phú tàng
dứt phú tàng, có kết dứt kết, có bỏn sẻn dứt bỏn sẻn, có tật đố dứt tật đố,
có dua nịnh dứt dua nịnh, có lường gạt dứt lường gạt, có vô tàm dứt vô
tàm, có vô quý dứt vô quý, có ác dục bỏ ác dục, có tà kiến bỏ tà kiến. Sự
tật đố ấy của Sa-môn12, sự dua nịnh của Sa-môn, sự trá ngụy của Sa-môn,
sự tà vạy của Sa-môn dẫn đến chỗ dữ đều đã bị dứt sạch, rồi học đạo
hành của Sa-môn. Vị ấy như vậy không phải phi Sa-môn. Đó là đạo hành
11 Hán; thường dương thủy常揚水. Pl. udakorohakassa, đối với người hay xuông
nước. Sớ giải: mổi ngày lội xuống nước ba lần (divasassa tikkhattuṃ udakaṃ
orohantassa).
12 Bản Hán, Sa-môn tật, ở trên nói là Sa-môn cấu. Có lẽ đây chép nhầm.