Văn bản trích xuất theo trang
Trang 329
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh NGŨ CHI VẬT CHỦ 557
“Vì sao vậy? Vì nhân chánh kiến nên sanh chánh tư duy15, nhân chánh tư
duy nên sanh chánh ngữ, nhân chánh ngữ nên sanh chánh nghiệp, nhân
chánh nghiệp nên sanh chánh mạng, nhân chánh mạng nên sanh chánh
tinh tấn16, nhân chánh tinh tấn nên sanh chánh niệm, nhân chánh niệm
nên sanh chánh định. Hiền Thánh đệ tử đã định tâm như vậy rồi, liền giải
thốt tất cả dâm, nộ, si.
“Này Vật chủ, Hiền Thánh đệ tử đã chánh tâm giải thốt như vậy rồi,
liền biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Đó gọi là học kiến đạo17
thành tựu tám chi, và A-la-hán lậu tận đã thành tựu mười chi18.
“Này Vật chủ, thế nào gọi là học kiến đạo thành tựu tám chi? Đó là học
chánh kiến cho đến chánh định.19 Như vậy gọi là học kiến đạo thành tựu
tám chi.
“Thế nào gọi là A-la-hán lậu tận thành tựu mười chi? Đó là vô học chánh
kiến cho đến vô học chánh trí20. Như vậy gọi là A-la-hán lậu tận thành
tựu mười chi.
“Này Vật chủ, nếu người nào có mười chi, Ta chủ trương rằng người ấy
thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất
nghĩa, là Sa-môn chất trực.”
Phật thuyết như vậy. Ngũ Chi Vật chủ và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
15 Chánh chí, tức chánh tư duy.
16 Chánh phương tiện, tức chánh tinh tấn.
17 Hán: học kiến tích 學 見 跡, chỉ giai đoạn kiến đạo của hàng hữu học. Xem
thêm cht. dưới.
18 Hàng hữu học ở địa vị kiến đạo, tu tập và thành tựu tám chi Thánh đạo để
thấy lý Tứ đế. Bậc A-la-hán lậu tận thành tựu mười vô học chi. Xem Tỳ-bà-sa 92
(tr.479 a).
19 M 78:
20 Tám vô học chi của Thánh đạo, thứ 9 vô học chánh giải thốt và 10 vô học
chánh trí (xem giải thích Tập dị 20 tr. 452 c). Pl., thứ 9: asekha-sammāñāṇa (vô
học chánh trí), thứ 10: asekha-sammāvimutti (vô học chánh giải thốt).