Văn bản trích xuất theo trang
Trang 302
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh HAØNH THIEÀN526
“Vị hành thiền ly hỷ, ly dục, an trụ xả vô cầu, chánh niệm, chánh trí mà
thân cảm giác lạc, điều được Thánh gọi là Thánh xả, niệm, an trụ lạc,
chứng đệ Tam thiền, thành tựu và an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng
hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Tứ thiền. Nhưng vị ấy lại
nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tam thiền
hướng đến Tứ thiền, đó là tịch tịnh thù thắng.’ Vị hành thiền ấy không
biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà
nhập Tam thiền, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp
khác mà vào Tứ thiền. Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ
tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà
cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành thiền với lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu trước vốn cũng đã
diệt, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, chứng đắc Tứ thiền,
thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập
con đường dẫn đến Không vô biên xứ, nhưng vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta
tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Tứ thiền thiền hướng đến
Không vô biên xứ, đó là tịch tịnh thù thắng.’ Vị hành thiền ấy không biết
như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập
Tứ thiền, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà
vào Không vô biên xứ. Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ
tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà
cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành thiền vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng,
không tư duy bất cứ loại tưởng nào, [715a] nhập không vô biên, chứng
Không vô biên xứ ấy, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng
hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Thức vô biên xứ, nhưng vị
ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ
Không vô biên xứ hướng đến Thức vô biên xứ, đó là tịch tịnh thù
thắng.’ Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng
tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Không vô biên xứ, nhưng không
nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Thức vô biên xứ.
Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy
mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh.
“Lại nữa, vị hành thiền vượt qua Không vô biên xứ, nhập thức vô biên,
chứng Thức vô biên xứ ấy, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tư