Văn bản trích xuất theo trang
Trang 199
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh phaân bieät luïc giôùi 415
não6. Sau khi không nghe chuyện sầu não thì ý không chán ghét, không
ưu sầu, không lao nhọc, không sợ hãi. Như vậy, có sự khuyên bảo là
đừng buông lung trí tuệ, hãy thủ hộ chân đế và trưởng dưỡng huệ thí7.
Này Tỳ-kheo, hãy học về tối thượng, hãy học về chí tịch8, như vậy là
phân biệt về sáu giới.
“Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu giới tụ, nhân gì mà nói như thế?
Đó là, giới đất, giới nước, giới lửa, giới gió, giới hư không và giới thức.
Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu giới tụ là nhân đó mà nói.
“Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có [690c] sáu xúc xứ9, do nhân gì mà
nói như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, xúc con mắt thấy sắc, xúc tai nghe
tiếng, xúc mũi ngửi mùi, xúc lưỡi nếm vị, xúc thân cảm xúc, xúc ý biết
pháp. Này Tỳ-kheo, nói rằng con người có sáu xúc xứ là do nhân đó mà
nói.
“Này Tỳ-kheo, nói con người có mười tám ý hành10, do nhơn gì mà nói
như thế? Đó là, này Tỳ-kheo, mắt thấy sắc, quán sát11 sắc rồi an trú nơi
hỷ, quán sát sắc rồi an trú nơi ưu, quán sát sắc rồi an trú nơi xả. Cũng vậy,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Ý nhận thức pháp, quán sát pháp rồi an trú nơi
hỷ, quán sát pháp rồi an trú nơi ưu, quán sát pháp rồi an trú nơi xả. Này
Tỳ-kheo, như vậy sáu hỷ quán12, sáu ưu quán, sáu xả quán, hợp lại là
mười tám ý hành. Nói rằng con người có mười tám ý hành là do nhơn đó
6 Hán: bất văn ưu thích sự 不聞憂戚事. Pāli: maññussavā nappavattanti, các
tưởng hoan hỷ (= vọng tưởng) không chuyển động.
7 Huệ thí; Pāli: cāga, sự thi ân.
8 Chí tịch 至 寂. Pāli: santi: sự tịch tĩnh, sự bình an; đồng nghĩa Niết-bàn.
9 Lục xúc xứ 六 觸 處. Pāli: chaphassāyatano.
10 Thập bát ý hành 十八意行. Pl.: aṭṭhārasamanopavicāro. Tập dị 15 (tr. 430a01):
18 ý cận hành, gồm 6 hỷ cận hành, 6 ưu cận hành, 6 xả cận hành.
11 Quán 觀,đồng nghĩa cận hành, đi sát, hay chạy theo; Pāli: upavicarati; trong
đó, vicāra, hành (đi), và cũng thường dịch là tứ (một thiền chi thuộc Sơ thiền)
mà bản Hán này thường dịch là quán (th.d.: hữu giác hữu quán, Pl. savitakka,
savicāra) Tập Dị ibid.: “Mắt sau khi thấy, nó tùy theo trú xứ của hỷ mà đi sát
(hay đi gần, cận hành) với sắc”. Pāli: cakkhunā rūpam disvā somanassaṭṭhānīyam
rupaṃ upavicarati.
12 Hỷ quán: hỷ cận hành.