Văn bản trích xuất theo trang
Trang 131
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh BÀ-LA-BÀ ÑƯƠØNG 344
của thời xưa, tuy thọ trì mà không biết nghĩa14. Sự quán sát ý nghĩa cũng
được nói như vậy.
“Này Bà-tư-tra, sau khi vị của đất mất, chất béo của đất15 có sắc, hương,
vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nào? Như sắc của sanh
tô và thục tô. Vị như thế nào? Như [675a] vị của mật ong. Chúng sanh
kia ăn chất béo của đất này mà tồn tại ở thế gian trong một thời gian lâu
dài.
“Này Bà-tư-tra, nếu chúng sanh nào ăn chất béo của đất nhiều thì sắc da
xanh xấu, người ăn chất béo của đất ít thì có sắc da đẹp, từ đó có sự phân
biệt hơn kém về sắc da. Nhân màu sắc có hơn kém cho nên mỗi mỗi
chúng sanh cùng nói nhau lời khinh mạn: ‘Sắc của ta hơn, sắc ngươi
không bằng.’ Do sắc hơn kém mà sanh ra khinh mạn và ác pháp, cho nên
chất chất béo của đất liền tiêu mất. Khi chất béo của đất tiêu mất, các
chúng sanh kia liền nhóm họp nhau lại, khóc lóc não nề và nói như thế
này: ‘Hỡi ơi chất béo của đất! Hỡi ơi chất béo của đất!’ Cũng như người
đời nay bị người khác mắng; chúng không nói chữ của thời xưa, tuy thọ
trì mà không biết nghĩa16. Sự quán sát ý nghĩa cũng được nói như vậy.
“Này Bà-tư-tra, sau khi chất béo của đất tiêu mất, một loại bà-la17 có sắc,
có hương vị sanh ra cho các chúng sanh kia. Sắc nó như thế nào? Như
sắc hoa gia-đàm.18 Vị nó như thế nào? Như vị mật ong tinh chất. Họ ăn
dây bà-la này mà tồn tại ở thế gian trong thời gian lâu dài.
“Này Bà-tư-tra, nếu chúng sanh nào ăn bà-la nhiều thì sắc da thành xấu,
người ăn ít bà-la thì có sắc da đẹp. Từ đó có sự phân biệt hơn kém về
màu da. Nhân sắc có hơn kém, cho nên mỗi mỗi chúng sanh nói lời khinh
mạn với nhau rằng, ‘Sắc ta hơn, sắc ngươi không bằng.’ Nhân sắc có
14 Pāli: tad eva porāṇaṃ aggaññaṃ akkharaṃ anupatanti, na tv ev’ assa atthaṃ
ājānanti, chúng nói theo văn tự ấy của thượng cổ, mà không biết ý nghĩa của nó.
15 Hán: địa phì 地 肥. Pāli: bhūmipappaṭaka, một thứ bánh (sữa bò trộn với gạo)
của đất. No.1(5) dịch là địa bính 地 餅.
16 Xem cht.15 trên.
17 Bà-la 婆羅. Pāli: badālatā, một loại dây leo hay bò. No.1(5): lâm đằng 林藤,
dây sắn, hay dây leo rừng.
18 Gia-đàm hoa 加曇華. No 10: giống như cành ca-lung-phạ-ca 迦籠嚩迦枝 có
bốn màu. Pl.: kalambukā (= nāḷikā, Sớ giải): một loại cỏ ống?