Văn bản trích xuất theo trang
Trang 108
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh ANH VŨ322
khởi.22 Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không ốn
không sân nhuế, không tranh chấp là do tu tập những pháp ấy.
“Này Ma-nạp, ý ngươi nghĩ sao? Nếu có Tỳ-kheo thủ hộ thành thật,23 thì
vị ấy do thủ hộ thành thật cho nên được hỷ, được duyệt.24 Này Ma-nạp,
nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện, Ta nói sự kiện đó từ tâm mà
khởi.25 Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết, không ốn,
không sân nhuế, không tranh chấp, [669c] vì để tu tập những pháp ấy,
nên vị ấy mới hành sự bố thí, sự tụng tập, sự hành khổ hạnh, sống Phạm
hạnh. Vị ấy do sống Phạm hạnh cho nên được hỷ, được duyệt.
“Này Ma-nạp, nếu có hỷ và duyệt tương ưng với thiện, Ta nói sự kiện ấy
từ tâm mà khởi. Thế nào gọi là từ tâm mà khởi? Nếu tâm không kết,
không ốn, không sân nhuế, không tranh chấp, tâm ấy đi đôi với từ, biến
mãn một phương, thành tựu an trụ; cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy,
trên dưới, bao trùm tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không ốn, không
sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ; cũng vậy, với bi và hỷ. Tâm đi đôi
với xả, không kết, không ốn, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng,
rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.
“Này Ma-nạp, cũng như có người khéo thổi tù và. Nếu có phương nào
chưa nghe được, người ấy vào lúc nửa đêm, leo lên núi cao, đem hết sức
thổi tù và, phát ra âm thanh vi diệu, biến mãn cả bốn phương; cũng vậy,
Tỳ-kheo tâm đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ; cũng
vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả, tâm đi đôi
với từ, không kết, không ốn, không sân nhuế, không tranh chấp, rất rộng,
rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn cả thế gian, thành tựu an trụ;
22 Pl.: cittassāhaṃ ete parikkhāre vadāmi, “Ta nói những (năm) pháp ấy là những
tư cụ của tâm.”
23 Pl.: bhikkhu saccavādī hoti, “Tỳ kheo là người nói sự thật.”
24 Pl.: labhati atthavedaṃ, labhati dhammavedaṃ, labhati dhammūpasaṃhitaṃ
pāmojjaṃ, “đạt được tín thọ nghĩa, tín thọ pháp. hỷ tương ưng với pháp.” Sớ
giải (MA i. 172): đạt được tín thọ nghĩa là thành tựu bất hoại tín nơi Phật
(buddhe aveccappasādena samannāgatomhī ti labhati atthavedan ti sambandho).
25 Pl.: yaṃ taṃ kusalūpasaṃhitaṃ pāmojjaṃ, cittassāhaṃ etaṃ parikkāraṃ vadāmi,
“những gì là hỷ tương ưng với thện, Ta nói đó là tư cụ của tâm.”