Văn bản trích xuất theo trang
Trang 256
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH ÖU-ÑÀM-BÀ-LA824
nói láo. Vì sao vậy? Vì ở trước Đức Thế Tôn mà dám lừa dối Ngài’.
Đức Thế Tôn biết vậy, Ngài liền nói:
“Này Vô Nhuế, Pháp của Ta rất sâu sắc, rất kỳ diệu, rất hy hữu, khó hiểu,
khó biết, khó thấy, khó chứng đắc, mà Ta dạy bảo cho đệ tử và đệ tử sau
khi vâng lãnh sự dạy bảo rồi liền được an ổn, trọn đời tịnh tu phạm hạnh
và đem dạy lại cho người khác nữa. Này Vô Nhuế, hãy hỏi Ta về lối tu
khổ hạnh kinh tởm7 mà Sư tông của ông chấp nhận, Ta cũng sẽ giải đáp
cho ông thỏa mãn”.
Lúc đó [592b] các chúng Dị học ồn ào đó cùng nhau lớn tiếng nói rằng:
“Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Có như ý túc, có uy
đức lớn, có phước hựu lớn, có oai thần lớn. Vì sao vậy? Ngài bỏ qua tông
chỉ của mình mà lại đề nghị thảo luận về tông chỉ của người”.
Lúc bấy giờ Dị học Vô Nhuế ra lệnh bảo hội chúng của mình im lặng rồi
hỏi:
“Thưa Cù-đàm, lối tu khổ hạnh kinh tởm, thế nào là được hồn tồn? Thế
nào là không được hồn tồn?
Bấy giờ Đức Thế Tôn trả lời:
“Này Vô Nhuế! Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn lõa hình, không y phục,
hoặc dùng tay làm y phục, hoặc lấy lá làm y phục, hoặc lấy hạt châu
làm y phục; hoặc không múc nước bằng bình, hoặc không múc nước
bằng gáo; không ăn đồ ăn xốc xỉa bằng dao gậy, không ăn đồ ăn lừa dối,
không tự mình đến, không sai người đi, không làm khách được mời8,
không làm khách được chào đón9, không làm khách được lưu10, không
ăn từ giữa hai người đang ăn, không ăn tại nhà có thai11, không ăn từ
7 Bất liễu tắng ố hành 不了憎惡行, tức lối tu hành khổ hạnh lấy sự ghê tởm
(tăng ố) làm bản chất. Pāli: tapojiguccha.
8 Hán: bất lai tôn 不 來 尊. Pāli: na-ehi-bhadantika, “không là Tôn giả được gọi:
Mời đến đây!”
9 Hán: bất thiện tôn 不 善 尊. Có lẽ tương đương: na-sādhu-bhadantika, “không
là Tôn giả được chào đón: Lành thay, tôn giả!”
10 Hán: bất trụ tôn 不 住 尊. Pāli: na-tiṭṭha-bhadantika, “không là Tôn giả được
mời mọc: Hãy ở lại đây, Tôn giả!”
11 Hán: bất hồi nhâm gia thực 不 懷 妊 家 食. Pāli: na gabbhiniyā (paṭiganṇhāti),