Văn bản trích xuất theo trang
Trang 975
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
974
TUỆ SỸ
phần nhiều làm những việc phi pháp, tà kiến điên đảo,
làm mười nghiệp ác. Vì làm mười nghiệp ác nên trời
không mưa xuống, làm cho trăm thứ cỏ cây chết khô,
ngũ cốc không thành, mà chỉ có gốc rạ mà thôi.
“Thế nào gọi là đói kém? Vì lúc bấy giờ, người dân
phải thu quét những hạt thóc còn rơi rớt lại các nơi
như ruộng vườn, đường sá, đầu ngõ, và trong phân đất
[144c] để tự sống còn, nên mới gọi là đói kém.11
“Lại nữa, lúc đói kém, người bấy giờ lượm nhặt xương
cốt từ những nơi như lò sát sinh, chợ búa, các đường
sá và các bãi tha ma, rồi nấu nước trấp mà uống, nhờ
vậy mà họ sống, nên gọi là ‘đói xương trắng.’12
‘Lại nữa, vào kiếp đói kém, ngũ cốc được gieo trồng
đều biến thành cỏ cây. Con người lúc này lấy bông
nấu nước trấp để uống. Lại nữa, vào thời đói kém,
bông của các lồi cây cỏ rụng phủ kín cả mặt đất, lúc
ấy mọi người phải đào đất lấy bông để nấu ăn, nhờ
vậy mà tự tồn tại, nên gọi là ‘đói cây cỏ.’ 13 Bấy giờ,
chúng sinh thân hoại mạng chung đọa vào trong ngạ
quỷ. Sao vậy? Vì những người sống trong kiếp đói
kém này, thường ôm lòng tham lam keo bẩn, không có
11 Cơ ngạ; định nghĩa từ đồng nghĩa của Skt. durbhikṣa (Pl.: dubbhik-
kha); Kośa-kārikā iii. 99: cañcu (sự mổ bằng mỏ chim), Chân Đế:
chiên giá lương 旃遮糧, Huyền Tráng: tụ tập 聚集; Câu xá 12: thời
kì đói kém cũng được gọi là tụ tập, vì con người bấy giờ cực đói,
thây chết gom thành đống; cũng vì người sau, người ta cất các thứ
hạt giống trong những cái giỏ.
12 Bạch cốt cơ ngạ 白骨饑餓; Câu xá ibid. (Skt. śvetāsthi, Pl.:
setaṭṭhika).
13 Thảo mộc cơ ngạ 草木飢餓; (Skt.śalākāvṛtti); Huyền Tráng: vận
trù 運籌, Chân Đế: trù lương 籌糧.