Văn bản trích xuất theo trang
Trang 883
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
882
TUỆ SỸ
Phẩm 6: A-TU-LA1
[129b2] Phật bảo các Tỳ kheo:
“Trong đáy nước biển lớn ở phía Bắc của núi Tu-di, có
một thành của La-ha A-tu-la,2 bề ngang rộng khoảng
tám vạn do-tuần, thành của nó có bảy lớp, bảy lớp lan
can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang điểm chung
quanh đều bằng bảy thứ báu tạo thành. Chiều cao của
thành là ba nghìn do-tuần, rộng hai nghìn do-tuần.
Cửa thành của nó cao một nghìn do-tuần, rộng cũng
một nghìn do-tuần. Thành vàng thì cửa bạc, thành bạc
thì cửa vàng,… (cho đến), vô số các lồi chim cùng
nhau ríu rít, cũng lại như trên.3
Tiểu thành, chỗ ngự trị của vị vua A-tu-la này ở ngay
trong thành lớn có tên là Luân-thâu-ma-bạt-tra,4 dọc
ngang sáu vạn do-tuần. Thành của nó gồm bảy lớp,
bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây, trang
điểm chung quang bằng bảy thứ báu tạo thành. Thành
cao ba nghìn do-tuần, rộng hai nghìn do-tuần. Cửa
thành của nó cao hai nghìn do-tuần, rộng một nghìn
* 第四分世記經阿須倫品第六
1 Hán: A-tu-luân 阿須倫, đây đọc theo phiên âm thông dụng: A-tu-
la 阿 修 羅. Pl. = Skt. Asura
2 La-ha A-tu-luân 羅呵阿須倫; có lẽ Pl.: Rāhu-asura, A-tu-la gây
nguyệt thực. T 23: A-tu-la La-hô 羅呼 (Rāhu) ở phía Bắc của Sa-
đa-thi-lị. A-tu-luân tên là Sao-đa-thi-lị 抄多尸利 (Sapta-śrī?) ở
sâu 40 vạn dặm dưới núi Tu-di. T 24: phía Đông Tu-di có A-tu-la
vương là Tì-ma-chất-đa-la 鞞摩質多羅阿修羅王.(Pl.: Vepacitti/
Vemacitra)
3 Như các mẫu mô tả trong phẩm 1.
4 Luân-thâu-ma-bạt-đà 輪輸摩跋陀. T 24: Thiết-ma-bà-đế 設摩
婆帝.