Văn bản trích xuất theo trang
Trang 753
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
752
TUỆ SỸ
môn tập họp tại giảng đường, bàn luận sự việc như
vậy.3 Những vấn đề chống trái nhau.
1. Tưởng đẳng khởi
“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Con người
phát sinh tưởng không do nhân gì, duyên gì. Tưởng
diệt, không do nhân duyên gì. Tưởng có đến, có đi.
Khi tưởng đến thì tưởng sinh. Khi tưởng đi thì tưởng
diệt.’4
“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Do mạng,
có tưởng sinh; do mạng, có tưởng diệt. Tưởng kia đi,
đến. Đến thì tưởng sinh. Đi thì tưởng diệt.’
“Cù-đàm, hoặc có Phạm-chí nói như vầy: ‘Các thuyết
nói trước đó không đúng sự thật. Có vị đại quỷ thần,
có uy lực lớn, mang tưởng đi; mang tưởng đến. Khi
vị ấy mang tưởng đi thì tưởng diệt. Khi vị ấy mang
tưởng đến thì tưởng sinh.’6
3 Hán: thuyết như thị sự 說如是事, không nói rõ nội dung. Pl. ibid.:
abhisaññānirodha, sự diệt tận của tăng thượng tưởng. Đoạn tiếp theo
nói rõ ý nghĩa này.
4 D 9 (178): ahetuapaccayā purisassa saññā upajjanti pi nirujjanti
pi. Yasmiṃ samaye uppajjanti saññī tasmiṃ samaye hoti, yasmiṃ
samaye nirujjanti, asaññī tasmiṃ samaye hotīti: các tưởng của con
người sinh khởi hay hủy diệt không do bởi nhân gì, duyên gì. Khi
chúng sinh khởi, lúc đó con người là có tưởng. Khi chúng diệt, lúc
đó con người là không có tưởng.
Pl.ibid.: saññā hi bho purussa attā, sā ca kho upeti pi apeti pi. yasmiṃ
samaye upeti (...), tưởng là tự ngã của con người. Tự ngã có đến,
có đi. Khi nó đến, tưởng sinh (...). Trong bản Hán: mạng (Pl.: jīva);
trong bản Pl.: attā (tự ngã). Phổ thông, jīva hay attā đều có nội hàm
là tự ngã.
6 Pl.ibid.: santi hi bho devatā mahaddhikā mahānubhāvā. tā puris-
sa saññāṃ upakaḍḍhanti pi apakaḍḍhanti pi. yasmiṃ samaye