Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 614

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

613 TRƯỜNG A HÀM – KINH PHẠM VÕNG tự tại trong một nghìn thế giới, là tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là tổ phụ của chúng sinh, độc nhất mình ta hiện hữu trước nhất. Chúng sinh khác [90c] đến sau. Chúng sinh đến sau này đều do ta hóa thành.’ Chúng sinh sinh đến sau kia lại có ý nghĩ như vầy: ‘Vị kia là Đại Phạm. Vị kia có khả năng tự tạo, không có ai là người sáng tạo ra vị ấy. Ngài biết rõ hết nghĩa thú; tự tại trong một nghìn thế giới, tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sinh, riêng vị ấy hiện hữu trước nhất. Chúng ta hiện hữu sau. Chúng sinh chúng ta đều do vị ấy hóa thành.’ “Chúng sinh ở Phạm thiên kia khi mạng và hành đã hết bèn sinh đến thế gian này. Rồi trưởng thành dần, và rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, cho đến nhập tâm định. Do tâm định tĩnh, người ấy tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Đại Phạm kia có khả năng tự tạo; không do ai tạo ra. Ngài biết hết nghĩa thú, tự tại trong một nghìn thế giới, là tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sinh, thường hằng bất biến. Nhưng các chúng sinh do Phạm Thiên kia sáng tạo như chúng ta, chúng ta thì vô thường biến dịch, không tồn tại lâu dài. Vì vậy biết rằng bản ngã và thế gian nửa thường hằng và nửa không thường hằng. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất. Sa-môn, Bà-la- môn nhân đó y bản kiếp bản kiến đề khởi luận thuyết nửa thường hằng nửa không thường hằng, thuộc trong thudaso; đấng thấy khắp tất cả (biến nhẫn), theo phân tích hợp từ: aññad-atthu-dasa; nhưng Hán phân tích khác: añña-da(dā)- attha-dasa. T 21: giải nghĩa 解義, cũng phân tích từ như bản Hán này.