Văn bản trích xuất theo trang
Trang 474
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
473
TRƯỜNG A HÀM – KINH A-NẬU-DI
sự thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh.’56 Nhưng
Ta không nói như vậy: ‘Đệ tử của Ta khi chứng nhập
giải thốt thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh, vị ấy
khi biết thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh.’ Này
Phạm-chí, chính Ta nói rằng: ‘Đệ tử Ta chứng nhập
giải thốt thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh; vị ấy
biết thanh tịnh, thì cũng biết tất cả đều thanh tịnh.’”57
Lúc bấy giờ, Phạm-chí bạch Phật:
“Người kia không được thiện lợi khi phỉ báng Sa-môn
Cù-đàm rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nói đệ tử của mình
nhập giải thốt thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh;
vị ấy khi biết thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh.’
Nhưng Thế Tôn không nói như vậy. Chính Thế Tôn
nói: ‘Đệ tử Ta chứng nhập giải thốt thanh tịnh, thành
tựu hành thanh tịnh; vị ấy biết thanh tịnh, thì cũng biết
tất cả đều thanh tịnh.”
Rồi ông lại bạch Phật:
“Tôi cũng sẽ nhập giải thốt thanh tịnh, thành tựu
56 Hán: bất biến tri tịnh 不遍知淨. Bản Hán có thể chép sai, nên cần
đọc lại: biến tri bất tịnh 遍知不淨, cho phù hợp với nội dung giáo
nghĩa được Phật xác định ngay đoạn tiếp theo. Cf. D 24 (iii 34):
Samaṇo Gotamo evam āha: yasmiṃ samaye subhaṃ vimokkhaṃ
upasampajja viharati, sabbaṃ tasmiṃ samaye asubhaṃ t’ eva
sañjānāti, Sa-môn Gotama nói như vầy: vị nào khi chứng nhập
và an trú tịnh giải thốt, vị ấy khi ấy nhận thức tất cả đều bất
tịnh.
57 Hán: nhất thiết biến tịnh 一切遍淨; nên đọc: nhất thiết biến tri 知
tịnh. Cf. Pl.: evañca khvāhaṃ vādāmi – yasmiṃ samaye subhaṃ
vimokkhaṃ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṃ samaye
pajānāti, “Ta nói: khi chứng nhập và an trú giải thốt thanh tịnh,
khi ấy cũng biết tất cả đều thanh tịnh.”