Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 457

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

456 TUỆ SỸ 2. Ni-kiên tử Cứu-la-đế “Lại một thời, Ta ở tại ấp Bạch Thổ 19 nước Minh- ninh, lúc bấy giờ có Ni-kiền Tử tên là Cứu-la-đế, 20 trú tại Bạch Thổ, được mọi người sùng kính, tiếng tăm đồn xa, được nhiều lợi dưỡng. Khi ấy, Ta khốc y cầm bát vào thành khất thực. Tỳ-kheo Thiện Tú lúc bấy giờ đi theo Ta, thấy Ni-kiền Tử Cứu-la-đế đang nằm phục trên một đống phân mà liếm bã trấu. 21 Phạm-chí, nên biết, khi Tỳ-kheo Thiện Tú thấy Ni-kiền Tử này nằm phục trên đống phân mà ăn bã trấu, liền suy nghĩ rằng: ‘Các A-la-hán hay những vị đang hướng đến quả A-la-hán trong thế gian không ai kịp vị này. Đạo của vị Ni-kiền Tử này là bậc nhất hơn hết. Vì sao? Người khổ hạnh mới được như vậy, dứt bỏ kiêu mạn, nằm trên đống phân mà liếm bã trấu.’ “Phạm-chí, bấy giờ Ta xoay người theo hướng phải, nói với Thiện Tú rằng: ‘Người ngu kia, 22 ngươi há có thể tự nhận là Thích tử chăng?’ Thiện Tú bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn, vì sao gọi con là người ngu, không xứng đáng tự nhận là Thích tử?’ Phật nói với Thiện Tú: ‘Ngươi ngu si, ngươi quan sát Cứu-la-đế này ngồi chồm hổm trên đống phân mà ăn bã trấu liền nghĩ rằng: Trong các A-la-hán hay những vị đang hướng đến quả La hán, Cứu-la-đế này là tối tôn, [67b] tối 19 Bạch Thổ ấp白土邑; Pl. (D 21): tại xóm Uttaraka của người Thūlu. (Bản Devanagari: Thūlu, bản Roman: Bhumu). 20 Cứu-la-đế 究羅帝; Pl.: lõa thể Kotakkhattiya, tu theo kiểu chó. 21 Hán: thỉ khang tao 舐糠糟. D 24: chamānikiṇṇaṃ bhakkasaṃ mukhen eva khādati mukheneva bhuñjati, lấy miệng mà cắn hay nhai đồ ăn vung vãi trên đất. 22 Để bản: nhữ ý ngu nhân 汝意愚人; TNM: nhữ ngu nhân.