Văn bản trích xuất theo trang
Trang 409
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
408
“A-nan đáp: “Không.”
“Vậy nên, A-nan, Ta do lẽ đó, biết già-chết do sinh,
duyên sinh có già-chết, nghĩa của Ta nói thế đó.9
“Lại nữa, này A-nan, duyên hữu mà có sinh là nghĩa
thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục
hữu, sắc hữu, vô sắc hữu, thế thì có sinh không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết sinh do hữu, duyên hữu
có sinh. Điều mà Ta nói, ý nghĩa là ở đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên thủ mà có hữu là nghĩa
thế nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục thủ,
kiến thủ, giới thủ, ngã thủ, thế thì có hữu không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết hữu do thủ, duyên thủ
có hữu. Nghĩa của Ta nói tại đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên ái mà có thủ là nghĩa thế
nào? Giả sử hết thảy chúng sinh không có dục ái, hữu
ái, vô hữu ái,10 thế thì có thủ không?”
Đáp: “Không.”
“Này A-nan, Ta do lẽ đó, biết thủ do ái, duyên ái có
thủ. Nghĩa của Ta nói tại đó.
“Lại nữa, này A-nan, duyên thọ mà có ái, là nghĩa thế
9 Pāli, ibid.: eseva hetu etaṃ nidānaṃ esa samudayo esa paccayo
jarāmaraṇassa, yadidaṃ jāti, như vậy là nhân, nhân do, tập khởi,
duyên của già-chết, đó là sinh. T 26(97): đó là nhân 因, là tập習,
là bản 本, là duyên 緣 của già-chết, tức là sinh.
10 Pāli, ibid.: sáu ái thân, sắc ái (rūpataṇhā), cho đến pháp ái
(dhammataṇhā).