Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tuệ Sỹ dịch · 1.009 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 328

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

327 9. KINH CHÚNG TẬP Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật du hành ở Mạt-la 1 cùng với một nghìn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, rồi đi dần đến thành Ba- bà,2 vườn Am-bà của Xà-đầu.3 Bấy giờ, vào ngày mười lăm lúc trăng tròn, 4 Thế Tôn ngồi ở giữa khoảng đất trống với [49c] các Tỳ-kheo vây quanh trước sau. Thế Tôn đêm ấy sau khi đã thuyết pháp nhiều, bèn nói với Xá-lợi-phất : “Các Tỳ-kheo bốn phương tụ tập về, thảy đều siêng năng, dẹp bỏ ngủ nghỉ. Nhưng Ta đau lưng, muốn nghỉ một chút. Ngươi nay hãy thuyết pháp cho các Tỳ-kheo.” Xá-lợi-phất đáp: “Kính vâng. Con sẽ làm theo Thánh giáo.” Thế Tôn trải tăng-già-lê bốn lớp rồi nằm nghiêng phía hữu như con sư tử, hai chân chồng lên nhau. I. NHÂN DUYÊN NI-KIỀN-TỬ * 1 Mạt-la . Pl.: Malla. T 1536: Lực sĩ sinh xứ . 2 Ba-bà thành . T. 1356: Ba-bà ấp . Pl.: Pāva. 3 Xà-đầu Am-bà viên . T. 1356: rừng Chiết-lộ-ca . D 33: Pāvāyaṃ viharati Cundassa kammāraputtassa ambavane, du hành Pāva, trong rừng xồi của thợ rèn Cunda. 4 T. 1356, Phật được những người Lực sĩ mời đến ở ngôi đền mới dựng là Ôn-bạt-nặc-ca . D 33, duyên khởi cũng vậy, hội trường tên là Ubbhataka. Tên gọi này liên hệ đến từ uposatha, chỉ ngày trai giới tức ngày 15, có thể giải thích sự khác biệt trong bản Hán trên.