Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 78

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH HỮU THAÉNG THIÊN629 tâm giải thốt biến mãn, thành tựu an trụ, chỉ với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thốt không vượt hơn chỗ đó8. Nếu không y trên một cây, thì hãy y trên hai, hay ba gốc cây, ý cởi mở, đại tâm giải thốt biến mãn, thành tựu an trụ, với giới hạn bằng chừng đó, tâm giải thốt không vượt hơn chỗ đó. Nếu không y trên hai, hay ba gốc cây thì hoặc y trên một khu rừng. Nếu không y trên một khu rừng thì hoặc y trên hai, ba khu rừng. Nếu không y trên hai, ba khu rừng, nên y trên một thôn. Nếu không y trên một thôn thì nên y trên hai, ba thôn. Nếu không y trên hai, ba thôn thì hoặc y trên một nước. Nếu không y trên một nước, thì nên y trên hai, ba nước. Nếu không y trên hai, ba nước thì hoặc y vào đại địa, cho đến đại hải, ý cởi mở, đại tâm giải thốt biến mãn, thành tựu an trú, với giới hạn bằng đó, tâm giải thốt không vượt hơn chỗ đó. Đó là đại tâm giải thốt. “Tài Chủ, thế nào là vô lượng tâm giải thốt? Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ở trong rừng vắng, hoặc đến gốc cây, chỗ yên tịnh trống trải, tâm đi đôi với từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trú. Như vậy, hai, ba, bốn phương, trên dưới cùng khắp nơi, tâm đi đôi với từ, không kết không ốn, không giận không tranh, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian. Cũng như vậy, tâm đi đôi với hỷ, bi, xả, không kết không ốn, không giận không tranh, rất rộng, rất lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian. Đó là vô lượng tâm giải thốt”. Tôn giả hỏi: “Tài Chủ, đại tâm giải thốt và vô lượng tâm giải thốt, [550b] hai giải thốt này khác nghĩa, khác văn, hay đồng nghĩa đồng văn?” Tiên Dư Tài Chủ bạch rằng: “Từ chỗ tôi nghe Tôn giả thì tôi hiểu được nghĩa ấy. Hai giải thốt ấy, nghĩa đã khác nhau mà văn cũng khác”. Tôn giả A-na-luật-đà bảo rằng: “Tài Chủ, có ba lồi trời: Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh 8 Bản Pāli: yāvatā ekaṃ rukkhamūlaṃ mahaggan ti pharitvā adhimuccitvā viharati, vị ấy an trú sau khi làm sung mãn và xác định rằng “lớn đến mức bằng một gốc cây”.