Văn bản trích xuất theo trang
Trang 58
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH SA-KÊ-ÑẾ TAM TỘC TÁNH TỬ609
mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh đập
cũng không thể nhẫn nại được. Thân mắc phải các bệnh tật thống khổ
đến mức muốn chết và gặp những cảnh ngộ [545a] không vừa lòng đều
không thể nhẫn chịu được. Vì sao? Vì bị dục phủ kín, bị ác pháp quấn
chặt, không được xả, lạc, vô thượng tịch tịnh. Trái lại, nếu ly dục, không
bị ác pháp quấn chặt, chắc chắn sẽ đạt đến xả, lạc, vô thượng tịch tịnh.
Tâm vị ấy không sanh ra tham lam, sân nhuế, thụy miên, tâm được an lạc.
Thân không sanh ra dã dượi, cũng không ăn nhiều, tâm không sầu não.
Tỳ-kheo ấy nhẫn nại được đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi nhặng,
gió nắng bức bách, nghe tiếng thô ác hay bị đánh đập cũng đều nhẫn nại
được. Thân dù mắc những chứng bệnh hiểm nghèo rất thống khổ đến
mức chết được, hay gặp những cảnh ngộ không thể vừa lòng, đều nhẫn
nại được. Vì sao? Vì không bị dục phủ kín, không bị ác pháp quấn chặt,
lại đạt đến xả, lạc, vô thượng tịch tịnh.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này A-na-luật-đà, Như Lai vì ý nghĩa gì mà có cái hoặc phải đoạn trừ,
hoặc có cái phải thọ dụng, hoặc có cái phải kham nhẫn, hoặc có cái phải
đình chỉ, hoặc có cái phải nhả bỏ5?”
A-na-luật-đà bạch rằng:
“Thế Tôn là gốc của Pháp, là chủ của Pháp, Pháp do Thế Tôn nói. Mong
Thế Tôn giảng giải cho chúng con. Sau khi nghe xong, chúng con sẽ biết
được những nghĩa ấy một cách rộng rãi”.
Đức Thế Tôn lại bảo:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi hãy lắng nghe, khéo tư duy và ghi nhớ! Ta
sẽ phân biệt những thiện lợi ấy cho các ngươi”.
Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la vâng lời lắng
nghe.
Đức Thế Tôn bảo:
5 Hữu sở trừ, sở dụng, sở kham, sở chỉ, sở thổb 所除 所用 所堪 所止 所吐.
Pāli: saṅkhāyekaṃ paṭisevati saṅkhāyekaṃ adhivāsati saṅkhāyekaṃ parivajjati
saṅkhāyekaṃ vinodeti: sau kki tư duy, thọ dụng một pháp; sau khi tư duy, nhẫn
thọ (chấp nhận) một pháp; sau khi tư duy, xả ly một pháp; sau khi tư duy, bài
trừ một pháp.