Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 483

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH THIỆN SANH 170 Càng an vui vi diệu. Ngày thì ưa ngủ nghỉ, Đêm lại thích rong chơi; Buông lung, thường uống rượu; Ở nhà không yên được. Quá lạnh và quá nóng, Đều lười biếng không làm; Rốt cuộc không sự nghiệp, Không kiếm ra tài vật. Hoặc lạnh và quá nóng, Bất kể, như ngọn cỏ. Siêng làm việc như vậy, Suốt đời đều an vui. “Này con nhà Cư sĩ, có bốn hạng người không thân cận, tuồng như thân cận17. Bốn hạng người đó là gì? Một là biết việc18, thì chẳng phải thân cận in tuồng thân cận. Hai là trước mặt nói lời dịu ngọt19, thì chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Ba là lời nói khéo20 thì chẳng thân cận in tuồng như thân cận. Bốn là bạn đưa đến chỗ ác thì chẳng thân cận [640b] in tuồng như thân cận. “Này con nhà Cư sĩ, do bốn trường hợp nên người biết việc dù chẳng phải thân cận in tuồng như thân cận. Bốn trường hợp ấy là gì? Một là do biết việc mà đoạt của. Hai là cho ít lấy nhiều. Ba là hoặc vì sợ mà làm. Bốn là hoặc vì lợi mà hùa theo.” Rồi Đức Thế Tôn nói bài kệ: Người lấy biết làm việc, Nói năng rất êm dịu, 17 Pāli: amittā mittapaṭirūpakā, không phải bạn mà có vẻ bạn. 18 Hán: tri sự . No.1(16) úy phục. Pāli: aññadatthuharo, hạng người vật gì cũng lấy. Hình như, trong bản Hán, aññad (khác) được hiểu là aññā(d) (biết); atthu, động từ mệnh lệnh cách: mong nó là; được hiểu là attha: sự việc. 19 Pāli: anuppiya-bhāṇī, nói ngọt, tức nịnh hót. 20 Hán: ngôn ngữ , không rõ ý. Pāli: vacīparamo, nói giỏi.