Văn bản trích xuất theo trang
Trang 394
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH HÀNG MA81
gốc cây trong rừng sâu, hoặc đến chỗ không tĩnh, trải ni-sư-đàn ngồi kết
già, liền nhập tưởng tri diệt định một cách nhanh chóng. Lúc ấy có những
người đang lùa trâu, dê, người đi mót cỏ, hoặc người đi đường; họ vào
trong núi, thấy ngài nhập tưởng tri diệt định, bèn nghĩ rằng: ‘Sa-môn này
ngồi mà chết trong khu rừng vắng này. Chúng ta hãy nhặt cỏ khô chất
đống phủ lên trên, ràng rịt cẩn thận, lượm củi chất chồng lên trên thân để
hỏa thiêu’.9 Họ bèn nhặt cỏ chất đống phủ lên thân ngài, nổi lửa đốt rồi
bỏ mà đi. Tôn giả kia, sau khi đêm đã qua, trời vừa hừng sáng, ra khỏi
định, đập phủi y phục, du hành trở về thôn ấp, đắp y, mang bình bát vào
thôn ấp khất thực như thường lệ, khéo giữ gìn thân căn, giữ vững chánh
niệm. [621a] Những người lùa trâu, dê, những người mót cỏ khô, hoặc
người đi đường vào trong núi đã gặp Tôn giả trước kia, họ bèn nghĩ:
‘Đây là Sa-môn ngồi mà chết trong khu rừng vắng vẻ này. Chúng ta đã
nhặt cỏ khô chất đống phủ trên thân, nổi lửa đốt rồi bỏ đó mà đi. Song
Hiền giả này vẫn còn biết tưởng10.’ Này Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên Tôn
giả Tưởng được gọi là Tưởng vậy.
“Này Ba-tuần, lúc ấy Ác ma nghĩ rằng: ‘Sa-môn trọc đầu này bị da đen
trói chặt11, bị tuyệt chủng, không con cái, học thiền, dò xét, ngong ngóng
dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét12. Giống như con lừa trọn ngày
mang nặng, bị cột lại trong tàu, không được ăn lúa mạch, nó dò xét,
ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; Sa-môn trọc đầu này
bị da đen trói chặt, tuyệt chủng, không con cái, chúng nó học thiền, dò
9 Trong bản: da-duy 耶維.
10 Thử Hiền giả cánh phục tưởng 此賢者更復想; Pāli: ayaṃ samaṇo... svāyaṃ
paṭisañjīvito, “sa-môn này tự mình sống lại.” Ở đây, sañjīva: người còn sống; bản
Hán đọc là saññīva (Skt. sajñīva); người còn có tưởng.
11 Dĩ hắc sở phược 以黑所縳. Pāli: kaṇhā bandhupādāpacca, đen điu, nòi giống ti
tiện (sinh từ bàn chân của bà con của Phạm thiên). Trong bản Hán, bandhu, bà
con, được đọc là bandha, sự cột trói.
12 Cố dịch sát: học thiền, tứ, tăng tứ, sác sác tăng tứ 學禪伺增伺數數增伺. Pāli:
jhāyanti, pajjhāyanti, nijjhāyanti, apajjhāyanti (chúng nó thiền, chúng nó thiền trầm
ngâm, chúng nó thiền đắm đuối, chúng nó thiền si dại). Hán tăng tứ thường dịch
chữ abhijjhā, tham cầu (theo nghĩa, dòm ngó tài sản người khác), được hiểu
cùng gốc động từ jhāyati: thiền hay tư duy.