Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 343

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH THÆNH THÆNH 23 Tôn giả Xá-lợi-phất chắp tay hướng về Thế Tôn, thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của con; nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn có phiền gì về thân, khẩu, ý hành của năm trăm thầy Tỳ-kheo chăng?” Đức Thế Tôn nói: “Này Xá-lợi-phất, Ta cũng không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của năm trăm Tỳ-kheo này. Vì sao vậy? Này Xá-lợi-phất, năm trăm Tỳ-kheo này đều đã chứng đắc vô trước, dứt trừ các lậu, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, hữu kết đã tận và đã đạt được thiện nghĩa, chánh trí, chánh giải thốt; chỉ trừ một Tỳ-kheo10 mà trước kia Ta đã thọ ký cho rằng: ngay trong đời này sẽ chứng đắc cứu cánh trí, biết một cách như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Này Xá-lợi-phất, vì vậy nên Ta không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của năm trăm Tỳ-kheo này.” Tôn giả Xá-lợi-phất ba lần lặp lại chắp tay hướng về Đức Thế Tôn thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của con và cũng không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của năm trăm Tỳ-kheo này. Như vậy, bạch Thế Tôn, trong số năm trăm Tỳ-kheo này, có bao nhiêu thầy đã chứng đắc ba minh đạt11? Bao nhiêu thầy đã chứng đắc câu giải thốt12? Bao nhiêu thầy đã chứng đắc tuệ giải thốt13?” Thế Tôn nói: “Này Xá-lợi-phất, trong số năm trăm Tỳ-kheo này, chín mươi Tỳ-kheo đã chứng đắc ba minh đạt; chín mươi Tỳ-kheo đã chứng đắc câu giải thốt; còn các Tỳ-kheo kia đều chứng đắc tuệ giải thốt. Này Xá-lợi-phất, trong chúng này không có nhánh, không có cành lá, cũng không có đốt, mà chỉ có lõi chắc thật, thanh tịnh, đều đã chân chánh trụ vị.” 10 Chỉ Tôn giả A-nan, bấy giờ chưa chứng đắc lậu tận. 11 Tam minh đạt 三 明 達, tức tam minh. Pl.: tevijjā 12 Câu giải thốt 俱解脫, hay Câu phần giải thốt, Pāli: ubhatobhāgavimutta, vị A-la-hán có Tuệ giải thốt đồng thời có Diệt tận định. Về Câu giải thốt, Tuệ giải thốt, xem kinh số 127 và 195. 13 Tuệ giải thốt, xem cht. trên.