Văn bản trích xuất theo trang
Trang 182
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh THỦY TÒNH PHẠM CHÍ747
93. KINH THỦY TỊNH PHẠM CHÍ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật đến Uất-tì-la, bên bờ sông Ni-liên-nhiên, ngồi dưới
gốc cây A-đa-hòa-la Ni-câu-loại vào lúc mới thành đạo2.
Bấy giờ sau giờ ngọ, có Thủy Tịnh Bà-la-môn3 ung dung đi đến chỗ Phật.
Đức Thế Tôn thấy Thủy Tịnh Bà-la-môn từ xa đi lại; nhân vì có Thủy
Tịnh Bà-la-môn, Ngài bảo các Tỳ-kheo4:
“Nếu có hai mươi mốt thứ cấu uế làm bẩn tâm5, chắc chắn dẫn đến ác
xứ, sanh vào địa ngục.
“Những gì là hai mươi mốt thứ cấu uế? Đó là, tâm uế do tà kiến, tâm uế
do phi pháp dục, tâm uế do ác tham, tâm uế do tà pháp, tâm uế do tham,
tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế do trạo cử hối quá, tâm uế
do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú tàng, tâm uế do xan
tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua siểm, [575b] tâm
uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm
uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật6.
2 Xem kinh 134.
3 Thủy Tịnh Phạm chí 水淨梵志. No.51: Kế Thủy Phạm chí; No.99 (1185)
không nói tên; No.100 (99): Bà-la-môn thờ lửa; No.125 (13.5): một người Bà-
la-môn đang gánh một gánh nặng, đi đến gần Phật. Người Bà-la-môn mà Phật
gặp ngay sau khi vừa thành đạo, được nói đến trong Luật tạng Pāli tên là
Huhuṅkajātika. Pāli tương đương không có chi tiết này. Nhưng người Bà-la-
môn xuất hiện ở cuối kinh. Xem đoạn cuối.
4 Sự kiện này hồn tồn không phù hợp. Khi vừa thành đạo này, Ngài chưa có
một đệ tử xuất gia nào cả.
5 Uế ô ư tâm 穢污於心. Pāli: citassa upakkilesa, ô nhiễm của tâm (hay tùy phiền
não của tâm). No.51 và No.125: kết 結.
6 No.125 (13.5): 21 kết nhiễm tâm: sân, nhuế, hại, thùy miên, điệu hý, nghi, nộ,
kỵ, não, tật, tắng, vô tàm, vô quý, huyễn, gian, ngụy, tránh, kiêu mạn, đố, tăng
thượng mạn, tham. Liệt kê theo bản Pāli: abhijjhavisamalobho (tham lam và bất
chánh tham), vyāpādo (sân), kodho (phẫn nộ), upanāho (ốn hận), makkho (phú
tàng hay ngụy thiện), palāso (não hay ác ý, ác cảm), issā (tật đố), macchariyam
(xan hay bỏn sẻn), māyā (cuống hay huyễn hoặc), sāṭheyyam (siểm hay gian trá),