Văn bản trích xuất theo trang
Trang 119
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH NI-KIỀN 131
“Ta lại hỏi các Ni-kiền kia rằng:
“– Các vị tin Tôn sư Thân Tử Ni-kiền, mà không chút nghi ngờ sao?
“Họ trả lời ta rằng:
“– Cù-đàm, chúng tôi tin Tôn sư Thân Tử Ni-kiền, không hề có nghi
hoặc.
“Ta lại hỏi các Ni-kiền kia rằng:
“– Có năm pháp đem lại hai quả báo trong hiện tại này.20 Đó là tín, lạc,
văn, niệm, kiến thiện quán. Các Ni-kiền, có phải chăng người ta tự hư dối
mình mà nói rằng: ‘Điều này đáng tin, đáng hâm mộ, đáng nghe theo,
đáng suy ngẫm, đáng chiêm nghiệm kỹ21?’ Họ trả lời Ta rằng:
“– Đúng như vậy, thưa Cù-đàm!
“Ta lại bảo các Ni-kiền kia rằng:
“– Đó là lời dối trá, sao đáng tin, sao đáng nghe theo, sao đáng suy ngẫm,
sao đáng chiêm nghiệm? Nghĩa là, người ta tự hư dối mình mà nói rằng:
‘Điều này đáng tin, đáng hâm mộ, đáng nghe theo, đáng suy ngẫm, đáng
chiêm nghiệm kỹ’.
“Nếu các Ni-kiền nói như thế22 thì đối với pháp như thật có năm điều
đáng khiển trách23, chất vấn, là đáng ghê tởm24. Những gì là năm?
“Nay những điều khổ, lạc mà chúng sanh này cảm thọ đều do sự tạo tác
trước kia25 Nếu đúng như vậy thì các Ni-kiền trước kia tạo các ác nghiệp.
20 Cf. M. ii. 218: diṭṭheva dhamme dvidhāvipākā: Tín 信 (saddhā), lạc 樂 (ruci:
hoan hỷ), văn 聞 (anussava: tùy văn, nghe tường thuật), niệm
念(ākārāparivitakka: tướng tĩnh lự, suy xét các dấu hiệu hay điều kiện hay lý do),
và kiến thiện quán 見善觀 (diṭṭthinijhānakhanti: nhẫn thọ tà kiến).
21Hán: khả tín, khả lạc, khả văn, khả niệm, khả kiến thiện quán. Pāli: “Lòng tin
của các Tôn giả Nigaṇṭha đối với Tôn sư quá khứ như là thế nào? Sự hoan hỷ,
tùy văn, thẩm sát và nhẫn thọ như thế nào?” (diễn giải về năm pháp nói trên).
22 Đaọn mạch giưabản Pāli và Hán phần nhiều không khớp nhau.
23 Hán: ngũ trách cật. Pāli (M.ii. 222): dasa vādānuvādā, mười luận đề phụ (của
các học thuyết).
24 Hán: khả tắng ố 可橧惡.
25 Hán: nhân bản tác 因本作. Pāli: pubbekatahetu.