Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 404

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

132. KINH LẠI-TRA-HÒA-LA Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu1 cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến Thâu-lô-tra2; trú trong vườn Thi-nhiếp-hòa3, phía Bắc thôn Thâu-lô- tra. Bấy giờ, các Bà-la-môn, Cư sĩ thôn Thâu-lô-tra nghe đồn rằng: “Sa-môn Cù-đàm, con dòng họ Thích, lìa bỏ tông tộc, xuất gia học đạo, đang trú Câu-lâu-sấu cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến thôn Thâu-lô-tra này, trú trong rừng Thi-nhiếp-hòa, phía Bắc thôn Thâu-lô-tra. Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm lớn, đồn khắp mười phương. Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy ở trong thế gian này, giữa Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người đến trời, mà tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu an trụ4. Vị ấy thuyết pháp vi diệu ở khởi đầu, vi diệu ở khoảng giữa và đoạn cuối cũng vi diệu, có nghĩa, có văn; cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh5. Nếu được gặp Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để tôn trọng, lễ bái, cúng dường, thừa sự, thật là thiện lợi thay! Chúng ta nên cùng nhau đến gặp Sa-môn Cù-Đàm để lễ bái, cúng dường.” 1 Câu-lâu-sấu 拘 樓 瘦. Pāli: Kurūsu, giữa những Kuru. No 68: Câu-lưu quốc 拘留國. No 69: Câu-lô thành 俱盧. 2 Thâu-lô-tra 鍮 蘆 吒. No.69: Đổ-la tụ lạc 睹羅聚落. No.68: từ Câu-lưu quốc đến Chú-la-âu-tra quốc 黈羅歐吒國. Pāli: một làng của người Kuru tên là Thullakoṭṭihika. 3 Thi-nhiếp-hòa viên 尸 攝 惒 園. Pāli: Siṃsapāvana, rừng cây siṃsapa. 4 Hán: bỉ ư thử thế… tự tri tự giác tự tác chứng thành tựu du. Pāli, thành cú: so imaṃ lokaṃ sadevakaṃsayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, “Vị ấy sau khi bằng thắng trí tự mình chứng nghiệm thế giới này bao gồm chư Thiên… rồi thuyết minh”. 5 Hán: cụ túc thanh tịnh, hiển hiện phạm hạnh 具足淸淨顯現梵行. Pāli, thành cú: kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, Ngài nêu sáng đời sống phạm hạnh tuyệt đối hồn hảo, tuyệt đối trong sạch.