Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 356

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH BÁT NẠN46 Hân hoan thủ tận. Vui nơi thủ tận, Tâm không di động, Biết đúng như thật, Tâm được giải thốt. Tâm đã giải thốt, Căn trần tĩnh chỉ10, Việc làm đã xong11, Không phải làm nữa. Ví như núi đá, Gió không lay nổi. Sắc, thanh, hương, vị, Thân, xúc cũng vậy; Pháp ái, bất ái12, Không làm động tâm. Tôn giả Sa-môn Nhị Thập Ức sau khi đối trước Đức Phật trình bày về sự chứng đắc cứu cánh trí, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra. Bấy giờ, sau khi Tôn giả Nhị Thập Ức đi ra không bao lâu, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Này các thiện nam tử, hãy nên đến trước Ta để trình bày về sự chứng đắc cứu cánh trí như vậy. Hãy như Sa-môn Nhị Thập Ức, đi đến trước Ta trình bày về sự chứng đắc cứu cánh trí mà không khen mình, không khinh người, nói điều nghĩa lợi, hiển hiện pháp tùy theo các trường hợp; chớ nên như kẻ ngu si bị tăng thượng mạn trói buộc, đến trước mặt Ta trình bày về sự chứng đắc cứu cánh trí. Kẻ ấy không đạt được nghĩa lợi, chỉ tồn là sự phiền nhọc. Sa-môn Nhị Thập Ức đi đến trước Ta trình bày 9 Pāli: avyāpajjha, không não hại, không thù nghịch. 10 Hán: tức căn 息根. Pāli: santacitta, tâm tịch tịnh. 11 Hán: tác dĩ bất quán 作已不觀. Pāli: katassa paṭicayo n’atthi, không có sự làm thêm đối với điều đã làm. 12 Pāli: iṭṭhā dhammā aniṭṭhā ca, các pháp khả ái và không khả ái.