Văn bản trích xuất theo trang
Trang 338
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
120. KINH THUYẾT VÔ THƯỜNG
Tôi nghe như vầy:
[609c4] Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm,
vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc là vô thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã1. Thọ2 cũng vô
thường, vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Tưởng cũng là vô thường,
vô thường nên khổ, khổ nên phi ngã. Hành cũng là vô thường, vô thường
nên khổ, khổ nên phi ngã. Thức cũng là vô thường, vô thường nên khổ,
khổ nên phi ngã.
“Như vậy là sắc vô thường; thọ, tưởng, hành, thức vô thường, vô thường
nên khổ, khổ nên phi ngã. Đa văn Thánh đệ tử hãy nên quán sát như vậy,
hãy tu tập bảy đạo phẩm3, vô ngại, chánh tư, chánh niệm4. Vị ấy đã biết
như vậy, thấy như vậy rồi thì tâm giải thốt dục lậu, tâm giải thốt hữu
lậu, vô minh lậu. Giải thốt rồi liền biết mình đã giải thốt; biết như thật
rằng: ‘Sự sanh của ta đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm
xong, không còn tái sanh nữa’.
“Có chúng sanh và chín trú xứ của chúng sanh5, cho đến cõi đệ nhất hữu
với hành còn tàn dư, tức cõi phi tưởng phi phi tưởng xứ6, ở trong khoảng
trung gian đó, là bậc đệ nhất, là tối đại, là tối thắng, là tối thượng, là tối
tôn, là tối diệu; đó chính là vị A-la-hán ở trong đời. Vì sao vậy? Vì trên
1 Hán: phi thần 非神.
2 Hán: giác 覺. Pāli: vedanā.
3 Bản Nguyên-Minh: ba mươi bảy đạo phẩm. Bản Pāli, không có chi tiết này.
4 Pāli (S.iii. 82): yad anattā taṃ n’etam mama, n’eso aham asmi na m’eso attā, ti evam
etaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ,“ cái gì là vô ngã, cần phải được
nhận thức một cách như thực bằng chánh trí rằng: cái này không phải của ta; ta
không phải là cái này; cái này không phải là tự ngã của ta”.
5 Hán: hữu tình cư, chỗ chúng sanh cư ngụ. Pāli: sattāvasā.
6 Hán: hữu tưởng vô tưởng xứ hành dư đệ nhất hữu 有想無想處行餘第一有,
chỉ Hữu đỉnh thiên, cõi cao nhất trong tam hữu, tức cõi Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, tầng thứ tư của vô sắc định. Pāli ibid.: yāvatā sattāvasā, yāvatā bhavaggaṃ,
cho đến các cảnh vức của hữu tình, cho đến chóp đỉnh của (ba) Hữu.