Văn bản trích xuất theo trang
Trang 291
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
kinh ÑẠT PHẠM HẠNH 867
biết thọ diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết thọ, biết nhân sanh của thọ, biết hữu
báo của thọ, biết sự thắng liệt của thọ, biết sự diệt tận của thọ, biết thọ
diệt đạo như vậy, đó gọi là đạt phạm hạnh, có thể diệt tận tất cả thọ.
“Thế nào là biết tưởng? Biết có bốn tưởng5: Tỳ-kheo khi có tưởng nhỏ
cũng biết, tưởng lớn cũng biết, tưởng vô lượng cũng biết, tưởng xứ vô sở
hữu cũng biết. Đó là biết tưởng. Thế nào là biết nhân sanh của tưởng?
Biết từ xúc, do xúc nên tưởng. Đó là biết nhân sanh của tưởng. Thế nào
là biết hữu báo của tưởng? Biết [600a] tuyên thuyết6, tùy tưởng mà tuyên
thuyết7. Đó là biết hữu báo của tưởng. Thế nào là biết sự thắng liệt của
tưởng? Biết có tưởng tưởng về sắc8, có tưởng tưởng về tiếng, có tưởng
tưởng về hương, có tưởng tưởng về vị, hoặc có tưởng tưởng về xúc. Đó
là biết sự thắng liệt của tưởng. Thế nào là biết sự diệt tận của tưởng? Biết
xúc diệt, tưởng liền diệt. Đó là biết sự diệt tận của tưởng. Thế nào là biết
tưởng diệt đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh
định. Đó là biết tưởng diệt đạo. Nếu Tỳ-kheo biết tưởng, biết nhân sanh
của tưởng, biết hữu báo của tưởng, biết sự thắng liệt của tưởng, biết sự
diệt tận của tưởng, biết tưởng diệt đạo như vậy, đó gọi là đạt phạm hạnh,
có thể diệt tận tất cả tưởng.
“Thế nào là biết dục? Biết dục có năm công đức của dục, khả ái, khả hỷ,
mỹ sắc, tương ưng với dục, rất khả lạc. Những gì là năm? Sắc được biết
bởi mắt, thanh được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết
bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, pháp được biết bởi ý. Thế nào là biết
nhân sanh của dục? Biết từ xúc, do xúc nên có dục. Đó là biết nhân sanh
của dục từ đâu sanh. Thế nào là biết hữu báo của dục? Tùy theo chủng
loại dục mà sanh ái lạc, đắm trước rồi trụ vào đó, do nhân duyên đó lãnh
thọ quả báo, đến chỗ có phước, đến chỗ phi phước hay chỗ bất động. Đó
5 Bản Pāli: sáu tưởng: rūpasaññā, sắc tưởng, cho đến, dhammasaññā, pháp tưởng.
6 Thuyết 說. Pāli: katamo saññānaṃ vipāko? vohāraveppako, cái gì là kết quả (dị
thục) của các tưởng? Là kết quả của ngôn ngữ tập quán.
7 Tùy kỳ tưởng tiện thuyết 隨其想便說. Pāli: yathā yathā naṃ saṃjānāti tathā
tathā voharati evaṃ saññī ahosin ti, nó nhận biết vật ấy như thế nào thì nó nói như
thế, rằng “tôi có tưởng (có ấn tương) như vậy”.
8 Pāli: aññā saññā rūpesu, tưởng trong các sắc thì khác, cho đến, aññā saññā
dhammesu, tưởng trong các pháp thì khác.