Văn bản trích xuất theo trang
Trang 242
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
102. KINH NIỆM
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp
Cô Độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Thuở xưa, khi chưa chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh tận, Ta nghĩ
rằng: ‘Ta hãy chia các suy niệm1 làm hai phần, niệm dục, niệm nhuế,
niệm hại2 làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, làm
một phần khác3.’
“Sau đó, Ta liền chia các niệm làm hai phần, niệm dục, niệm nhuế, niệm
hại, làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, làm một
phần khác.
“Ta thực hành như vầy. Sống viễn ly, cô độc, tâm không phóng dật, tu
hành tinh tấn. Nếu sanh tâm niệm dục, Ta liền biết là đang sanh tâm niệm
dục, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không
chứng đắc Niết-bàn. Biết rằng, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ,
nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó liền tiêu diệt nhanh
chóng.
“Nếu lại sanh tâm niệm nhuế, tâm niệm hại, Ta liền biết là đang sanh
niệm nhuế, niệm hại, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, nhiều
phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn. Biết rằng, hại mình, hại người,
hại cả hai, diệt trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó
liền được tiêu diệt nhanh chóng.
“Khi sanh tâm niệm dục, Ta không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống
khứ; sanh tâm niệm nhuế, tâm niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn
trừ, loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy rằng, nhân nơi đó mà sanh
1 Niệm 念, hoặc gọi là tầm, tức là chú tâm tìm bắt đối tượng của tư duy. Cũng là
một thiền chi, thuộc Sơ thiền, mà bản Hán này thường dịch là: giác 覺. Pāli:
vitakka.
2 Dục niệm, nhuế niệm, hại niệm 欲恚害念, ba bất thiện tầm. Pāli: tayo
akusalavitakkā: kāmavitakko, vyāpādavitakko, vihiṃsavitakko.
3 Ba thiện tầm. Pāli: tayo kusalavitakkā.