Văn bản trích xuất theo trang
Trang 198
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH ÑẠI NHÂN766
“A-nan, nếu có người hỏi: ‘Già và chết có duyên không?’ Hãy trả lời như
vầy, ‘Già, chết có duyên’. Nếu có người hỏi: ‘Già, chết có duyên gì?’
Hãy trả lời như vầy: ‘Duyên nơi sanh vậy’.
“A-nan, nếu có người hỏi: ‘Sanh có duyên không?’ Hãy trả lời rằng:
‘Sanh cũng có duyên’. Nếu có người hỏi rằng: ‘Sanh có duyên gì?’ Hãy
trả lời rằng: “Duyên nơi hữu vậy”.
“A-nan, nếu có người hỏi: ‘Hữu có duyên không?’, Hãy trả lời rằng ‘Hữu
cũng có duyên’. Nếu có người hỏi: ‘Hữu có duyên gì?’, Hãy trả lời rằng:
‘Duyên nơi thủ5 vậy’.
“A-nan, nếu có người hỏi: [578c] ‘Thủ có duyên không?’ Hãy trả lời
rằng ‘Thủ cũng có duyên’. Nếu có người hỏi: ‘Thủ có duyên gì?’ Hãy trả
lời rằng: ‘Duyên nơi ái vậy’.
“A-nan, đó là duyên ái có thủ; duyên thủ có hữu; duyên hữu có sanh;
duyên sanh có già và chết, duyên già chết có buồn lo, khóc lóc, buồn khổ,
áo não; đều duyên nơi già chết mà có. Như thế là trọn đủ tồn khối khổ
đau to lớn.6
“A-nan, duyên sanh có già chết. Đây nói duyên sanh có già chết; nên biết,
điều được nói là duyên sanh có già chết. A-nan, nếu không sự sanh, như
cá và lồi cá, chim và lồi chim, muỗi và lồi muỗi, rồng và lồi rồng,
thần và lồi thần, quỷ và lồi quỷ, trời và lồi trời, người và lồi người;
A-nan, các lồi chúng sanh như thế này hay như thế kia ấy, ở bất cứ nơi
này hay nơi kia ấy; nếu không sự sanh, mỗi lồi và mỗi lồi đều không
sanh, thì giả sử tách rời sự sanh, có già chết không?”
“Bạch Thế Tôn, không”.
“A-nan, cho nên biết rằng, nguyên nhân của già chết, tập khởi của già
chết, căn bản của già chết, duyên sanh của già chết7, gọi đó là sanh. Vì
sao? Vì duyên nơi sanh nên có già chết.
“A-nan, duyên hữu có sanh. Đây nói là duyên hữu có sanh; nên biết, điều
5 Nguyên Hán: thọ 受.
6 Thuần đại khổ ấm 純生大苦陰.
7 Nhân, tập, bản, duyên 因習本緣. Pāli: hetu, samudayo, nidānaṃ, paccayo:nguyên
nhân, tập khởi, bản nguyên, điều kiện (nhân duyên). Các bản đều chép là 習 (tập
quán), nhưng đối chiếu Pāli, nên hiểu là 集 (tập khởi).