Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Trung A Hàm II

Kinh Trung A Hàm II

Tuệ Sỹ dịch và chú · 519 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 108

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

KINH NIỆM THÂN660 bá như vậy. “Lại nữa, Tỳ-kheo đã diệt tận năm hạ phần kết sử, sanh vào nơi kia rồi nhập Niết-bàn, được pháp bất thối, không trở lại đời này. [557c] Đây là đức tánh thứ mười một khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy. “Lại nữa, Tỳ-kheo nếu có tịch tĩnh giải thốt21, ly sắc, chứng đắc vô sắc, định như vậy22, tự thân tác chứng, thành tựu an trụ, rồi bằng trí tuệ và quán sát để vĩnh viễn đoạn trừ các lậu. Đây là đức tánh thứ mười hai, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bảy23 khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy. “Lại nữa, Tỳ-kheo chứng đắc như ý túc, thiên nhĩ, tha tâm trí, túc mạng trí, sanh tử trí, các lậu đã tận diệt, chứng đắc vô lậu, tâm giải thốt, tuệ giải thốt. Ngay trong đời này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã thành, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đây là đức tánh thứ mười tám khi tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy. “Tu tập niệm thân như vậy, quảng bá như vậy, nên biết, có mười tám công đức này24.” Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành. q 21 Nguyên Hán: tức giải thốt 息 解 脫; (Pāli: santa-vimokkha); chỉ định từ sắc giới vuợt qua sắc để nhập vô sắc, an trụ nơi tịch tĩnh giải thốt. Xem các kinh 26, 51. Bản Pāli không đề cập. 22 Như kỳ tượng định. 23 Các số này kể theo bản Cao-li. Bản Minh chỉ nêu số mười hai. 24 Thực sự chỉ có 10, bằng con số trong bản Pāli, chỉ khác chi tiết.