Văn bản trích xuất theo trang
Trang 381
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH BỆ-BÀ-LAÊNG-KỲ 421
“Này A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la lìa việc ăn quá giữa trưa, đoạn trừ
việc ăn quá giữa trưa, thường ăn một bữa, không ăn ban đêm, học hạnh
ăn đúng thờ. Đối với tâm niệm ăn quá giữa trưa, vị ấy đã tịnh trừ.
“Này A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời tay không cầm cuốc, không
tự tay đào đất, cũng không bảo người khác đào; nếu đất ở đê chận nước
lở ra, hoặc đất do chuột đào lên thì ông lấy làm đồ gốm, rồi đưa ra cho
người mua thấy [500a] và nói rằng: ‘Các ngài, nếu có đậu oản10, gạo giẻ,
lúa mạch, đậu ma lớn nhỏ, đậu bệ và hạt cải, sau khi trút xuống rồi, ngài
cứ mang gốm này mà đi, tùy theo ý muốn11’.
“Này A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la trọn đời hầu hạ cha mẹ, cha mẹ mù
lòa chỉ trông cậy vào vị ấy; cho nên ông phải hầu hạ.
“Này A-nan, thợ gốm Nan-đề-bà-la vào một sáng sớm, đi đến trước Đức
Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Khi đến nơi, ông
đảnh lễ Ngài, rồi ngồi qua một bên. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước,
Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho ông, khuyến phát, làm cho khát
ngưỡng, thành tựu tâm hoan hỷ. Sau khi bằng vô lượng phương tiện
thuyết pháp cho vị ấy, khuyến phát, làm cho khát ngưỡng, thành tựu tâm
hoan hỷ xong, Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác
ngồi im lặng.
“Này A-nan, sau khi được Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác thuyết pháp, khuyến phát, làm cho khát ngưỡng, thành tựu
tâm hoan hỷ rồi, thợ gốm Nan-đề-bà-la từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
dưới chân Ngài, đi quanh ba vòng, rồi lui ra.
“Bấy giờ đồng tử Ưu-đa-la cưỡi xe ngựa trắng, cùng với năm trăm đồng
tử nữa, vào lúc vừa sáng, từ thôn ấp Tì-bà-lăng-kỳ ra đi, đến một khu
rừng12, muốn giáo hóa các đệ tử từ nhiều nước đến, dạy chúng đọc sách
10 Hán: oản đậu 豌 豆, giống đậu Hà-lan.
11 Hình thức kinh tế trao đổi. Pāli: ettha yo icchati taṇḍulapabhivattāni (-
pavibhattāni, paṭivibhattāni) vā muggapabhivattāni va kāḷāyapabhivattāni vā
nikkhipitvā yaṃ icchati taṃ haratū’ti, “ai cần cái gì (đồ gốm), sau khi để lại đây
những thứ dư thừa như gạo, đậu xanh, đậu oản, hãy lấy thứ cần (đồ gốm) ấy đi”.
12 Hán: vô sự xứ 無事處, chỉ khu rừng yên tĩnh. Pāli: arañña.