Văn bản trích xuất theo trang
Trang 344
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH DI-HÊ378
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo nên nói điều đáng nói, phù hợp nghĩa của
bậc Thánh, khiến tâm nhu nhuyến, làm cho tâm không bị che lấp, tức là
nói về giới, nói về định, nói về tuệ, nói về giải thốt, nói về giải thốt tri
kiến, nói về sự tổn giảm lần lần, nói về việc không ưa tụ họp, nói về thiểu
dục, nói về tri túc, nói về pháp đoạn trừ, nói về vô dục, nói về pháp diệt,
nói về tĩnh tọa, nói về duyên khởi. Có được những điều được nói như vậy
của Sa-môn, được trọn đủ, dễ được chứ không khó. Này Di-hê, với ai
tâm giải thốt chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu
tập thứ ba.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo thường tu hành tinh tấn, đoạn trừ pháp ác
bất thiện, tu các pháp thiện, hằng tự sách tấn, chuyên nhất kiên cố; vì
mục đích tìm cầu gốc rễ thiện mà không xả bỏ phương tiện15. Này Di-hê,
với ai tâm giải thốt chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là
pháp tu tập thứ tư.
“Lại nữa, này Di-hê, Tỳ-kheo tu hành về trí tuệ, quán sát sự hưng thịnh
và suy vi của các pháp; chứng trí như vậy, bằng Thánh tuệ minh đạt16,
phân biệt thấu hiểu, mà chân chánh diệt tận khổ đau. Này Di-hê, với ai
tâm giải thốt chưa thuần thục mà muốn cho thuần thục thì đó là pháp tu
tập thứ năm.
“Vị ấy khi đã có năm pháp tu tập như vậy rồi, lại phải tu bốn pháp khác
nữa. Những gì là bốn? Tu ố lộ17 để đoạn trừ dục. Tu từ để đoạn trừ sân
nhuế. Tu sổ tức để đoạn trừ tâm niệm tán loạn. Tu vô thường để đoạn trừ
ngã mạn.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung
với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết vị ấy
chắc chắn tu tập cấm giới, thủ hộ Biệt giải thốt, lại khéo thâu nhiếp
các oai nghi, lễ tiết, thấy tội nhỏ cũng sanh lòng lo sợ, thọ trì học giới.
“Này Di-hê, nếu Tỳ-kheo nào tự mình là thiện tri thức, cùng sống chung
với thiện tri thức và cùng hòa hợp với thiện tri thức, thì nên biết, vị ấy nói
15 Pāli: anikkhittadhuro kusalesu dhammesu, không trút bỏ gánh nặng trong các
pháp thiện.
16 Thánh tuệ minh đạt 聖慧明達. Pāli: ariyanibbedhikapaññā, trí tuệ quyết trạch
của Thánh.
17 Ố (hay ác) lộ 惡 露. Pāli: asubha, bất tịnh.