Văn bản trích xuất theo trang
Trang 236
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH PHÂN BIỆT THÁNH ÑẾ266
tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các
hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm
không nhiễm trước mà quán sát tâm hồn tồn giải thốt, trong đó là sự
tư sát, tư sát tồn diện, tùy thuận tư sát, điều nào nên niệm thì niệm, điều
nào nên hy vọng thì hy vọng23. Đó là chánh tư duy.
“Này Chư Hiền, thế nào là chánh ngữ? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm
về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo
tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các
hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm
không nhiễm trước mà quán sát tâm hồn tồn giải thốt, trong đó ngồi
bốn diệu hành thuộc miệng, còn các ác hành khác nơi miệng đều viễn ly,
đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. Đó
là chánh ngữ.
[469b] “Này Chư Hiền, thế nào là chánh nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ
tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán
sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc
thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng
suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hồn tồn giải thốt, trong
đó ngồi ba diệu hành thuộc thân, còn các ác hành khác nơi thân đều viễn
ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội.
Đó là chánh nghiệp.
“Này Chư Hiền, thế nào là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy
niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát
về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc
thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng
suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hồn tồn giải thốt,
trong đó phải là mong cầu vô lý, không do nhiều tham dục mà không
biết vừa đủ, không làm các thứ xảo quyệt bùa chú, để sinh sống bằng
tà mạng. Chỉ theo chánh pháp mà mong cầu y phục, chớ không phải
với phi pháp, cũng theo chánh pháp để mong cầu thực phẩm, giường
23 Hán: tứ, biến tứ, tùy thuận tứ... khả niệm... khả vọng 伺, 遍伺, 隨順伺…
可念… 可 望. Tham chiếu Pháp uẩn 6 đd trên: tư duy... tầm cầu... suy mịch...
linh tâm ư pháp thô động nhi chuyển 思惟… 尋求… 推覓…
令心於法粗動而轉.