Văn bản trích xuất theo trang
Trang 225
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH TƯƠÏNG TÍCH DỤ 242
nên hổ thẹn, nên xấu hổ rằng: ‘Ta ở trong sự lợi mà không có lợi, ở trong
đức mà không có đức; nghĩa là ta nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn
không an trụ nơi xả tương ứng với thiện’.
“Này Chư Hiền, như người dâu lúc mới rước về, gặp mặt cha mẹ chồng,
hay gặp người chồng của mình thì xấu hổ, thẹn thùng. Này Chư Hiền,
nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy, nên xấu hổ thẹn thùng rằng: ‘Ta
ở trong sự lợi mà không có lợi, ở trong đức mà không có đức; nghĩa là ta
nhân nơi Phật, Pháp và Chúng mà vẫn không an trụ nơi xả tương ứng với
thiện’. Người ấy do hổ thẹn xấu hổ, nên liền an trú nơi xả tương ứng với
thiện. Đó là diệu, là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả tất cả hữu, lìa ái, vô dục,
diệt tận hồn tồn. Này Chư Hiền, đó là Tỳ-kheo học tất cả đại.
“Này Chư Hiền, cũng như nhờ cây gỗ, nhờ bùn đất, nhờ cỏ và nước,
che kín trong một khoảng không nên sanh ra cái tên gọi là ‘nhà’. Chư
Hiền, nên biết, thân này cũng lại như vậy, nhờ gân cốt, nhờ da dẻ, nhờ
thịt, máu bao bọc một khoảng không [467a] nên sanh ra cái tên gọi là
‘thân’.18
“Này Chư Hiền, như có người bị hư nhãn xứ bên trong, nên ngoại sắc
không được ánh sáng rọi đến, thành ra không có niệm19 và nhãn thức
không phát sanh. Này Chư Hiền, nếu nội nhãn xứ không bị hư hoại thì
ngoại sắc sẽ được ánh sáng rọi đến và liền có niệm, nên sanh ra nhãn
thức.
“Này Chư Hiền, nhãn xứ bên trong và sắc, cùng với nhãn thức biết ngoại
sắc, đó thuộc về sắc uẩn. Nếu có thọ, đó là thọ uẩn. Nếu có tưởng thì đó
là tưởng uẩn. Nếu có tư thì đó là tư uẩn. Nếu có thức thì đó là thức uẩn.
Như vậy quán sát sự hội hợp của các uẩn.
“Này Chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: ‘Nếu ai thấy duyên
khởi tức thấy pháp; nếu thấy pháp tức thấy duyên khởi20’. Vì sao thế?
Này Chư Hiền, Đức Thế Tôn nói năm thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh.
Sắc thủ uẩn; thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn cũng vậy.
18 Pl.: rūpaṃ tveva saṅkhaṃ gacchati, được biết như là sắc.
19 Hán: vô hữu niệm 無有念. Pl. (M.i. 190): no ca tajjo samannāhāro hoti, không
có sự tập trung tương ưng, tức tác ý không khởi lên được. Xem cht. 21 dưới.
20 Pāli (M. i. 191): yo paticcasamuppādaniṃ passati so dhamman passati, yo
dhamman passati so paticcasamuppādaṃ passati.