Văn bản trích xuất theo trang
Trang 136
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH LẬU TẬN72
có đời sau hay không có đời sau. Này Già-di-ni, ông lại cũng không có
tịnh trí để biết điều được làm là ác hay điều được làm là thiện? Này
Già-di-ni, có một pháp định16 được gọi là “Viễn ly”. Ông nhờ định ấy sẽ
có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời
hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn17”.
Lúc đó Già-di-ni từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa áo, chắp tay hướng
về Đức Thế Tôn mà bạch rằng:
“Thưa Cù-đàm, thế nào là có một pháp định được gọi là [447b] “Viễn ly”,
mà tôi nhờ định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm;
như vậy, ở trong đời hiện tại tôi có thể đoạn trừ sự nghi hoặc, và được
thăng tấn18?”
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của
không cho, tà dâm, nói dối, cho đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến.
Vị ấy ban ngày cày ruộng, và gieo giống; đến chiều nghỉ ngơi và vào nhà
ngồi thiền định; qua đêm, lúc hừng sáng suy nghĩ như vầy: ‘Ta xa lìa sự
giết, đoạn trừ sự giết; đoạn trừ sự lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho
đến đoạn trừ tà kiến và được chánh kiến. Vị ấy liền tự thấy: ‘Ta đã đoạn
trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo thiện’. Vị ấy sau khi tự
thấy: ‘Ta đã đoạn trừ mười nghiệp đạo ác và niệm mười nghiệp đạo
thiện’, liền sanh ra hân hoan. Sau khi sanh ra hân hoan liền phát sanh hỷ;
sau khi phát sanh hỷ, thân liền an định; sau khi thân được an định, thân
liền cảm giác lạc. Sau khi thân cảm giác lạc thì được nhất tâm. Này Già-
di-ni, sau khi Thánh đệ tử đa văn được nhất tâm rồi thì tâm câu hữu với
từ, biến khắp một phương, thành tựu và an trụ. Cũng thế hai, ba, bốn
phương, tứ duy, thượng hạ, biến khắp tất cả, tâm câu hữu với từ, không
kết không ốn, không sân, không nhuế, không não hại, quảng đại vô biên,
vô lượng, khéo tu tập biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Vị ấy
16 Hán: hữu pháp chi định 有法之定. Pāli: atthi... dhammasamādhi.
17 Pāli (S.iv. 350): atthi gāmaṇi dhammasamādhi tatra ce tvaṃ cittasamādhiṃ
paṭilabeyyāsi evaṃ tvaṃ imaṃ kaṅkhādhammam pajaheyyāsi, có pháp định (pháp
tam-muội), mà nếu trong đó ông có thể đạt được tâm định như vậy thì ông có
thể đoạn trừ pháp nghi hoặc”.
18 Hán: thăng tấn 昇進. Pāli: sagga, sanh lên trên; sanh thiên.