Văn bản trích xuất theo trang
Trang 117
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
KINH NI-KIỀN 129
si mê che lấp, bị si mê trói buộc, nên nói thế này: ‘Những gì mà con người
cảm thọ đều do nhân đã tạo tác từ trước. Nếu những nghiệp cũ của chúng do
nhân khổ hành diệt mà không tạo nghiệp mới nữa, thì các nghiệp ấy sẽ chấm
dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì các khổ sẽ chấm dứt, các khổ đã được chấm
dứt thì đđược đoạn tận khổ biên’.
“Ta hỏi như vậy mà không thấy các Ni-kiền có thể trả lời Ta rằng: ‘Này
Cù-đàm, đúng như vậy’ hay ‘không đúng như vậy’.
“Lại nữa, Ta hỏi các Ni-kiền rằng:
“– Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp mang lại lạc báo11 thì nghiệp ấy có thể
nào nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển thành khổ báo
chăng? Họ trả lời Ta rằng:
“– Không thể, thưa Cù-đàm!
“– Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp mang lại khổ báo12 thì nghiệp ấy có thể
nào nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển thành lạc báo
chăng?
“Họ trả lời Ta rằng:
“– Không thể, thưa Cù-đàm!
“– Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp báo trong đời hiện tại13, thì nghiệp ấy có
thể nào nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành ấy mà chuyển thành quả
báo đời sau chăng?
“Họ trả lời Ta rằng:
“– Không thể, thưa Cù-đàm!
“– Các vị Ni-kiền, nếu có nghiệp báo đời sau14 thì nghiệp ấy có thể nào
nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển thành quả báo đời hiện
do nhân dã tạo đời trước.
11 Hán: lạc báo nghiệp 樂報業. Pāli: kammaṃ sukhavedanīyaṃ, thuận lạc thọ
nghiệp, nghiệp dẫn đến cảm thọ lạc.
12 Hán: khổ báo nghiệp 苦報業. Pāli: kammaṃ dukkhavedanīyaṃ, thuận khổ thọ
nghiêp.
13 Hán: hiện pháp báo nghiệp 現法報業. Pāli: diṭṭhadhammavedanīya kamma,
thuận hiện thọ nghiệp
14 Hán: hậu sanh báo nghiệp 候生報業. Pāli: samparāyavedanīya kamma.