Văn bản trích xuất theo trang
Trang 606
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
lụy để nói với nhau rằng: ‘Ta hơn, rằng ta bằng, rằng ta kém.’ 1277 Nhưng đối với tất cả
thế gian biểu hiện lòng từ, đó gọi là chân lý thứ nhất của bà-la-môn, mà Ta đã tự giác
ngộ, thành Đẳng Chánh Giác, và vì người diễn nói.
“Lại nữa, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Những gì là pháp tập khởi1278 đều là diệt pháp.’ Đó là
chân lý, chẳng phải là hư vọng. ... cho đến đối với chân đế này chẳng chấp trước, và đối
với tất cả thế gian mà quán sát sinh diệt. Đó gọi là chân lý thứ hai của bà-la-môn.
“Lại nữa, Bà-la-môn nói vầy: ‘Không có ta bất cứ ở đâu, bất cứ sự gì, hoàn toàn không có
gì. Không có ta bất cứ ở đâu, bất cứ sự gì, hoàn toàn không có gì.’ 1279 Đó là chân lý,
chẳng phải hư vọng, như trước đã nói, ... cho đến đối với chân lý kia không bị trói đắm,
và đối với tất cả thế gian vô ngã như nhau. Đó gọi là chân lý thứ ba của Ba-la-môn, Ta đã
tự giác ngộ, thành Đẳng Chánh Giác, và vì người diễn nói.”
Bấy giờ các xuất gia Bà-la-môn đều ngồi im lặng. Thế Tôn nghĩ rằng: “Hôm nay Ta soi
sáng sự ngu si của họ, tiêu diệt điều ác của họ, nhưng hiện tại trong chúng này không có
một người có khả năng tự suy xét, muốn tạo nhân duyên để ở trong pháp của Sa-môn Cù-
đàm tu hành phạm hạnh!”
Ngài đã biết như vậy rồi, nên từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
KINH 1354. CHIÊN-ĐÀ1280
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di. Bấy giờ Tôn giả A-nan
cũng ở đó.
Lúc ấy có xuất gia ngoại đạo tên là Chiên-đà1281 đi đến chỗ Tôn giả A-nan, cùng thăm hỏi
khích lệ nhau xong, ngồi xuống một bên. Ông hỏi Tôn giả A-nan:
“Vì lý do gì Tôn giả xuất gia tu phạm hạnh ở nơi Sa-môn Cù-đàm?”
Tôn giả A-nan đáp:
“Vì muốn đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si, nên tôi xuất gia tu phạm hạnh ở nơi Sa-môn
Cù-đàm.”
1277 Bản Hán,văn cú đảo trang khiến dễ lẫn lộn phủ định với khẳng định. Cf Pāli ibid.: so tena na
samaṇo ti maññati,... na seyyoham asmīti maññati, na sadisoham asmīti maññati… api ca
yadeva tattha saccaṃ anuddayāya anukampāya paṭipanno hoti: vị ấy vì vậy không nghĩ rằng
mình là sa-môn…không nghĩ rằng ta hơn, ta bằng…Lại nữa do nhận thức chính xác chân lý ở đây mà vị ấy
thực hành lòng thương yêu, thương xót đối với các chúng sinh.
1278 Tập pháp 集法. Pāli, gồm hai chân đế: sabbe kāmā aniccā…sabbe bhavā aniccā…, tất cả dục
là vô thường… tất cả hữu là vô thường.
1279 Hán: Vô ngã xứ sở cập sự đô vô sở hữu. Vô ngã xứ sở cập sự đô vô sở hữu 無我處及事都
無所有. Cf. Pāli ibid.: nāham kvacani kassaci kiñcana tasmiṃ na ca mama kvacani katthaci
kiñcanatatthī ti: “Ta không la ai, của bất cứ ai, là bất cứ cái gì. Trong đó, không có bất cứ ai, bất cứ ở
đâu, bất cứ cái gì, là của ta.”
1280 Đại chánh, kinh 973. Pāli, M.76. Sandaka-suttanta. Biệt dịch, No 100(207).
1281 Chiên-đà 栴陀. Pāli: ngoại đạo xuất gia Sandaka sống trong hang Pilakkha.