Bản đọc trực tuyến

Thư viện Kinh Tạp A-hàm III

Kinh Tạp A-hàm III

Thích Đức Thắng dịch · 617 trang

Văn bản trích xuất theo trang

Trang 605

Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.

Ý tĩnh lặng, xa lìa. Thuận điều phục, tĩnh lặng; Tâm, miệng, thân lìa ác. Khéo nhiếp nơi trụ xứ, Không để cho phóng dật: Đây gọi là tùy thuận, Điều phục và tĩnh lặng. Khi ấy, xuất gia ngoại đạo Thượng Tòa tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.” Ông liền từ trên chỗ ngồi bước xuống, chấp tay bạch Phật: “Nay con có thể xuất gia thọ cụ túc, trở thành pháp Tỳ-kheo, ở nơi Chánh pháp Luật được chăng?” Phật bảo xuất gia ngoại đạo Thượng Tòa: “Nay ông có thể xuất gia thọ cụ túc, trở thành Tỳ-kheo ở trong Chánh Pháp Luật.” Sau khi xuất gia ngoại đạo Thượng Tòa đã xuất gia và trở thành Tỳ-kheo rồi, tự suy nghĩ về lý do khiến cho người thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà, ... cho đến tâm thiện giải thoát, đắc A-la-hán. KINH 1353. TAM ĐẾ1274 Tôi nghe như vầy: Một thời đức Phật ở trong vườn Trúc, Ca-lan-đà, thành Vương Xá. Bấy giờ có nhiều tu sỹ Ba-la-môn ở cạnh ao Tu-ma-kiệt-đà, tập họp lại một chỗ bàn luận như vầy: “Đây là chân lý của Bà-la-môn!1275 Đây là chân lý của Ba-la-môn!” Bấy giờ Thế Tôn biết tâm niệm của các xuất gia Bà-la-môn kia, Ngài đi đến bờ ao Tu- ma-kiệt-đà. Lúc ấy, các xuất gia bà-la-môn từ xa trông thấy dức Phật đang đến, liền sửa soạn chỗ ngồi cho Phật, thỉnh Phật an tọa. Phật ngồi vào chỗ ngồi xong, nói với các xuất gia Bà-la-môn: “Các Ông tụ tập ở bờ ao Tu-ma-kiệt-đà này để bàn luận những gì?” Xuất gia Bà-la-môn bạch Phật: “Thưa Cù-đàm, số đông các tu sỹ Bà-la-môn chúng tôi tập họp nơi đây bàn luận như vầy: Đây là chân lý của Bà-la-môn! [251b] Đây là chân lý của Ba-la-môn! ” Phật bảo các xuất gia Bà-la-môn: “Có ba chân lý của Bà-la-môn1276 mà Ta đã tự mình giác ngộ, thành Đẳng Chánh Giác, lại vì người diễn nói. Xuất gia Bà-la-môn các Ông nói như vầy: ‘Không hại tất cả chúng sanh.’ Đó là chân lý của Bà-la-môn, chẳng phải hư dối. Đối với chấn lý đó, họ không hệ 1274.Đại chánh, kinh 972. Ba sự thực. Pāli, A. 4.185. Brāmaṇasacca. Biệt dịch, No 100(206), No 125(26.8). 1275 Bà-la-môn chân đế 婆羅門真諦. 1276 A 4. 185: cattārimāni brāhmaṇasaccāni, đây là bốn chân lý của Bà-la-môn.