Văn bản trích xuất theo trang
Trang 7
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
“Như người cầm bốn thứ cung cứng,18 dùng hết lực bắn vào bóng cây
đa-la, qua nhanh không trở ngại. Cũng vậy, bốn hạng Thanh văn19 của
Như Lai, với tăng thượng phương tiện, lợi căn, trí tuệ, sống đến một
trăm năm tuổi thọ; đối vối pháp được giảng thuyết, được truyền trao
bởi Như Lai, chỉ trừ lúc ăn uống, ngủ nghỉ, bổ tả, trong khoảng trung
gian, thường nói, thường nghe, với trí tuệ sáng suốt lanh lợi; đối với
những gì Như Lai đã dạy, triệt để lãnh thọ, giữ gìn, không chướng
ngại; ở chỗ Như Lai không có gì để hỏi thêm. Như Lai nói pháp không
có kết thúc. Nghe pháp suốt cả đời, cho đến khi trăm tuổi mạng chung,
mà Pháp được Như Lai nói vẫn không cùng tận. Nên biết, vô lượng vô
biên; danh thân, cú thân, vị thân,20 mà Như Lai đã thuyết cũng lại vô
lượng, không có kết thúc; đó chính là bốn niệm xứ. Những gì là bốn?
Thân niệm xứ; thọ, tâm, pháp niệm xứ.”
Phật dạy kinh này xong, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Tất cả kinh bốn niệm xứ đều lấy câu tồng quát này. Tức là: “Cho nên,
Tỳ-kheo đối với bốn niệm xứ tu tập, phát khởi tăng thượng dục, tinh
cần phương tiện, chánh niệm chánh tri, cần nên học.”
KINH 583. BẤT THIỆN TỤ21
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có tụ bất thiện và tụ thiện.
“Tụ bất thiện là gì? Ba căn bất thiện. Đó gọi là chánh thuyết. Vì sao?
Tích tụ các pháp thuần bất thiện là ba căn bất thiện. Những gì là ba?
Đó là: tham bất thiện căn, nhuế bất thiện căn, si bất thiện căn.
“Tụ thiện là gì? Bốn niệm xứ. Vì sao? Đầy đủ thuần thiện, là bốn niệm
xứ. Đó gọi là thiện thuyết. Những gì là bốn? Thân niệm xứ; thọ, tâm,
pháp niệm xứ.”
18 Tứ chủng cường cung 四種強弓 Pāli: cattāro daḷhadhammā dhanuggahā, bốn
nhà thiện xạ cầm (bốn) cây cung cứng.
19 Tứ chủng Thanh văn 四種聲聞, chỉ bốn chúng đệ tử Phật.
20 Vị thân 味身: văn thân, âm tiết trong mỗi từ (hệ đa âm ngữ) Pāli: vyañjana.
21 Đại chánh, kinh 613 Pāli, S 47 47 Duccaritaṃ.