Văn bản trích xuất theo trang
Trang 11
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
ỉuận,u điều chắc chắn không thể phủ nhận đây là tác
phẩm lớn của Đại thừa. Đại trí độ chấp nhận thứ tự các
A-hàm như thế, điều này muốn nói rằng Thánh điển
nguyên thủy mà các nhà Đại thừa trong truyền thừa của
luận Đại trí độ là các A-hàm của Đại chúng bộ, hay rõ
hơn, Đại chúng bộ hậu kỳ. Thế nhưng, không phải tất cả
Đại thừa đều tụng A-hàm của Đại chúng bộ như là Thánh
điển chính thống. Luận Du-già sư địa, phái Du-già hành
truyền thừa bởi Vô Trước, đưa Tạp A-hàm lên hàng đầu
và xem như bộ phận nền tảng của toàn bộ Phật ngôn. Các
điểm giáo nghĩa của Tạp A-hàm được luận giải trong Du-
già sư địa chứng tỏ phần A-hàm này được kết tập bởi các
nhà Hữu bộ (sarvãstivãdin).15 Vậy, chỉ một bộ phận của
Đại chúng bộ về sau phát triển thành Đại thừa, hay được
chấp nhận bởi các nhà Đại thừa. Nhiều chi tiết trong
Tăng nhất này cung cấp một số dữ kiện để lý giải ý nghĩa
lịch sử này.
Thứ nhất, về yếu tố vừa mang tính hệ thống, vừa mang
hàm tàng nghĩa lịch sử.
Trước khi nhập Niết-bàn, Đức Phật đã nêu bốn nguyên
lý, gọi là bốn “đại giáo pháp”16 v ề sau, khi các bộ phái
Tăng nhất A-hàm
14 Etienne Lamotte, Le Traité de la Grande Vertue de Sagesse,
Tom iii, “Introduction.” Bác bỏ ý kiến của Lamotte, xem: K.
Venkata Ramanan, Nãgãrjuna’s Phylosophy, 2002;
“Introduction”.
15 Lữ Trừng, Tạp A-hàm kinh san định ký. Lữ Trưng Phật học
luận trước tuyển tập i.
16 Trường A-hàm, kinh số 2 “Du hành” (phần ii): bốn đại giáo
pháp ỈZ3Aífc'Ẻ; bốn quyết định thuyết Pl.: cattãro
mahãpadesã. Bốn nhân do phổ biến trong đó xác định giáo pháp
được thiết lập không nghi hoặc. Cf. ẩiksasamuccơya, 63:
kãlopadeẳamahãpradesãnapahãya\ Hán dịch, Tập Bồ-tát học
12