Văn bản trích xuất theo trang
Trang 1004
Bản PDF chuẩn là căn cứ để đọc và trích dẫn. Nội dung dưới đây hỗ trợ tra cứu và điều hướng, không thay thế quy trình biên tập phiên bản.
1003
TRƯỜNG A HÀM – KINH THẾ KÝ
“Vua Thanh Ma69 của giòng thứ mười có vương tử tên là
Ô-la-bà. Vua Ô-la-bà có vương tử tên là Cừ-la-bà. Vua
Cừ-la-bà có vương tử tên là Ni-cầu-la. Vua Ni-cầu-la
[149b] có vương tử tên là Sư Tử Giáp. Vua Sư tử Giáp
có vương tử tên là Bạch Tịnh vương.70 Vua Bạch Tịnh
vương có vương tử tên là Bồ-tát.71 Bồ-tát có con tên là
La-hầu-la. Do bản duyên này mà có tên gọi Sát-lị.72
“Bấy giờ, có một chúng sinh suy nghĩ như vầy: ‘Tất cả
mọi sở hữu như gia đình, quyến thuộc, muôn vật ở thế
gian đều là gai nhọn, ung nhọt, nay nên lìa bỏ, vào núi
hành đạo, ở nơi vắng vẻ mà tư duy.’ Rồi thì, người ấy liền
lìa bỏ gai nhọn là gia đình, vào núi, ở nơi vắng vẻ, ngồi
dưới gốc cây mà tư duy, hằng ngày ra khỏi núi, vào thôn
xóm mà khất thực. Mọi người trong thôn thấy vậy, càng
cung kính cúng dường. Mọi người đều cùng khen ngợi
rằng: ‘Người này có thể lìa bỏ hệ lụy của gia đình để vào
núi tầm đạo.’ Vì người này có thể xa lìa được pháp ác bất
thiện, nên nhân đó mà gọi là Bà-la-môn.73
“Trong chúng Bà-la-môn có người không hành Thiền
được, nên ra khỏi rừng núi, du hành trong nhân gian,
và tự nói: ‘Ta không thể tọa thiền.’ Nhân đó gọi là Vô
thiền Bà-la-môn.74 Rồi đi qua các thôn xóm, nó làm
69 Thanh Ma vương, xem T 1(20) kinh A-ma-trú.
70 Bạch Tịnh vương 白 淨 王, hoặc dịch là Tịnh Phạn vương 淨 飯
王, Pl.: Suddhodāna, vua nước Ca-Tì-la-vệ (Pl.: Kapilavatthu),
phụ vương của đức Thích Tôn.
71 Chỉ đức Thích Tôn.
72 Ngữ nguyên của từ Sát-lị, xem T 1(5) kinh Tiểu duyên.
73 Ngữ nguyên của từ Bà-la-môn, T 1(5) kinh Tiểu duyên.
74 Vô thiền Bà-la-môn 無 禪 婆 羅 門, kinh Tiểu duyên: Bất thiền
Bà-la-môn; xem T 1(5) kinh Tiểu duyên.